THÁNH GIOAN VIANNEY, BÔN MẠNG CÁC CHA SỞ

Tác giả: M Cardo
Người dịch: Cha Lương
nguoitinhuu.com

PHẦN I: SƠ LƯỢC TIỂU SỬ THÁNH GIOAN VIANNEY

Gioan Chăn Chiên
Khi Chúa đuổi ông Adong và bà Evà ra khỏi vườn Địa Đàng, từ đó đất đai sinh gai góc, cỏ dại khiến hai ông bà cùng con cháu, là tất cả nhân loại, phải làm việc vất vả khó nhọc, phải đổ mồ hôi ra mới có của ăn và phải chết. Vì vậy trong thế gian nầy, mọi người đều phải khó nhọc làm nghề nọ, nghề kia để nuôi sống mình, nhưng không có nghề nào vất vả khó nhọc, dầm mưa dãi nắng cho bằng nghề nông. Dân làm nghề nông vất vả không chỉ có người lớn, mà trẻ con cũng có việc của trẻ con chứ chẳng được ở không. Khi Gioan lên bảy tuổi cha cậu sai đi chăn chiên ngoài đồng thay cho anh trai.

Từ xưa đến giờ Chúa hay tỏ lòng yêu thương cách riêng những kẻ chăn chiên, Người thương Abel, em của Cain, và vui lòng nhận lấy lễ tế là những con chiên mà ông dâng lên Người. Khi Đavit đang chăn chiên, Chúa đã tuyển chọn ông làm vua dân Do Thái. Khi Chúa Giêsu giáng sinh nơi hang đá thành Bêlem, Thiên Chúa sai các thiên thần mang tin vui ấy cho những mục đồng gần đấy biết để đến thờ lạy Người trước hết. Lúc rao giảng Chúa Giêsu cũng xưng mình là Chúa Chiên Lành.

Cuộc đời của các thánh như Thánh Visentê lập dòng, Thánh Genovepha, Thánh Germana cùng nhiều thánh khác khi còn bé đã làm nghề chăn chiên. Chúa thương Gioan Vianney như đã thương các thánh ấy, vì trong những năm chăn chiên, Gioan chẳng những giữ được lòng sạch tội, mà còn thêm lòng yêu mến Chúa và làm đẹp lòng Người hơn nữa.

Đoàn súc vật mà Gioan chăn dắt gồm bốn con bò, một con lừa và bốn con chiên. Sáng tinh mơ, Gioan một tay cầm tượng Đức Mẹ, một tay cầm roi thong thả đi theo đoàn súc vật ra đồng cỏ cho chúng ăn và ở với chúng cho tới lúc gần tối mới dong chúng về. Những trẻ chăn chiên trong làng thấy Gioan hiền lành, vui vẻ, không cãi cọ với ai, không làm mất lòng ai, nên chúng rất mến phục Gioan.

Vì nhân đức tốt lành, luôn làm đẹp lòng người, có sức thúc bách mọi người phục mình và vì hiền lành khôn ngoan, nên mặc dù Gioan còn bé và ít tuổi hơn chúng bạn cùng chăn chiên, cậu được chúng tôn lên làm thủ lãnh đám mục đồng. Bọn chúng kính nể và luôn vâng lời cậu như đàn em vâng lời đàn anh. Gioan thấy chúng bạn mến phục mình thì lợi dụng việc đó mà khuyên họ hãy yêu mến Chúa cùng hòa thuận yêu thương nhau, đừng cãi cọ chửi rủa nhau và cũng không văng tục chửi bậy.

Có lúc cậu bảo chúng bạn ngồi xuống chung quanh, rồi khuyên bảo chúng như linh mục giảng trong nhà thờ. Có lúc cậu để tượng Đức Mẹ trên một tảng đá, cậu quỳ xuống và ra hiệu cho chúng bạn cùng quì đọc kinh Kính Mừng. Nhiều lúc bọn chúng nghe lời cậu khuyên bảo hay chịu đọc kinh chung nhưng cũng có lúc bọn chúng dở chứng không nghe, bỏ đi chơi chỗ khác. Gioan thấy vậy thì không thích, nhưng làm thinh không nói gì. Cậu rất ham mộ đời sống cầu nguyện nên nhiều lần đang chơi, đang nói chuyện với chúng bạn, cậu bỏ đi tìm nơi vắng vẻ mà đọc kinh lần hạt.

Không những Gioan kính mến Chúa, yêu mến Mẹ Maria trên hết mọi sự mà cậu còn thương xót và hay giúp đỡ người nghèo. Ban tối, khi những người nghèo đến xin ăn nơi nhà cha mẹ thì cậu giúp cha mẹ phục vụ họ trong việc ăn uống và dọn chỗ ngủ cho họ. Không những cậu thương họ phần xác mà cả phần hồn nữa, cậu dạy cho các trẻ biết làm dấu thánh giá, đọc kinh Lạy Cha, kinh Kính Mừng và khuyên bảo bọn chúng cố gắng sống hy sinh, hãm mình.

Gioan Được Rước Lễ Lần Đầu
G
ioan đã mười hai tuổi mà vẫn chưa được rước lễ lần đầu vì lúc ấy nước Pháp đang xảy ra cuộc cách mạng, dân chúng náo loạn. Kitô giáo bị bách hại tan tác, những người cách mạng chém đầu vua và hoàng hậu, bắt bớ những kẻ quí tộc thuộc dòng dõi sang trọng và những ai không theo phe cách mạng. Hễ chúng bắt được người nào thì giết, bỏ tù hay lưu đày. Cuộc cách mạng cũng cấm đạo dữ dội không thua gì các vua chúa ngoại đạo khi xưa, họ bắt bớ các linh mục, tu sĩ nam nữ, tịch thu các nhà dòng cùng ruộng nương, tài sản của các dòng ấy, xâm chiếm nhà thờ ở các nơi.

Những người cách mạng không phá bỏ, không bán các nhà thờ, nhưng có nơi họ làm nhà hội họp, có nơi làm nhà hát, có nơi họ niêm phong cửa ra vào, cấm không cho ai đến đọc kinh dự lễ. Còn các linh mục, người thì trốn sang nước ngoài, người nào không muốn bỏ con chiên thì chạy lên rừng, lên núi ẩn kín trong các hang hốc hay giả làm thầy thuốc, làm lái buôn, làm đầy tớ, ẩn náu tạm bợ, khi ở nhà này, lúc ở nhà kia. Những ai trốn không kịp hay ẩn nấp không được đều bị bắt và xử trảm.

Không khí cách mạng đang còn hừng hực thì quan quân về làng Dardilly niêm phong cửa nhà thờ, và vì làng ở gần trục lộ chính nên quan quân qua lại nơi đó luôn. Linh mục chánh xứ phải trốn đi không được ở đấy. Than ôi! Trong ba bốn năm trời, con mất cha, đoàn chiên mất chủ chăn, không được dự lễ, không được xưng tội chịu lễ, không được vào nhà thờ, nên những ai có lòng đạo đức như gia đình ông Mátthêu thì đau khổ, buồn phiền biết là chừng nào! Giống như những năm mất mùa đói kém, người ta thèm khát có cái gì ăn được để bỏ vào bụng cho đỡ đói, cho khỏi chết thế nào thì trong những năm đại loạn ấy, giáo dân các nơi các xứ cũng ước ao của ăn thiêng liêng nuôi dưỡng phần hồn họ như vậy.

Những nơi hẻo lánh, xa xôi ở trên rừng, trên núi hoặc nơi đồng bằng nhưng giáo dân gan dạ, sốt sắng thì các linh mục có thể ẩn nấp được trong nhà họ. Trong thành phố Lyon và những làng mạc kế cận có khoảng gần ba mươi linh mục, các ngài ẩn nấp nơi này nơi kia trong suốt cuộc cách mạng. Ban đêm, các linh mục cải trang thành thường dân đi xức dầu cho kẻ hấp hối, hoặc khi có thể được thì làm lễ cho giáo dân trong một nhà nào đó lúc trời còn tối.

Vì Gioan lớn lên trong thời đại loạn như vậy nên không được chịu lễ lần đầu sớm, điều đó làm cha mẹ và nhất là Gioan rất buồn lòng. Cuối năm 1794, sau khi cơn bão cách mạng dịu đi phần nào, có bốn linh mục đến ẩn náu tại làng Ecully, quê ngoại của Gioan, tiếp giáp xứ Dardilly. Làng Ecully rất lớn, có gần bốn ngàn người. Giáo dân trong làng ấy ngoan đạo sốt sắng, họ gan dạ sẵn sàng chứa chấp các linh mục. Bàn ngày các ngài ẩn kín trong nhà các giáo hữu, ban đêm, các ngài giải tội, khuyên bảo yên ủi kẻ yếu lòng, dạy giáo lý cho các trẻ chưa xưng tội rước lễ lần đầu, có khi làm lễ ban đêm cho mọi người đến dự.

Khi cha mẹ Gioan nghe tin có linh mục đến trốn tại làng Ecully, hai vợ chồng và con cái luân phiên nhau đội thúng quẩy bánh, làm như đi chợ để dự lễ cùng xưng tội rước lễ cho thỏa lòng khát khao. Gioan thường theo cha mẹ cùng chị em tham dự thánh lễ, và mỗi lần như thế, cậu thường quỳ nghiêm trang, sốt sắng gần bàn thờ. Linh mục dâng lễ thấy cậu bé hay quì gần bàn thờ, nghiêm trang chăm chú, không hề quay ngang quay ngửa thì để ý đến cậu bé.

Có một lần, khi xong lễ, linh mục hỏi Gioan tên gì? Bao nhiêu tuổi? Quê ở đâu? Xưng tội đã bao lâu? Gioan thưa lại rõ ràng lễ phép. Bấy giờ, linh mục thấy Gioan đã lên mười hai tuổi mà chưa xưng tội lần nào thì bảo cậu vào tòa giải tội ngay cho, và sau đó ngài dạy giáo lý cùng kinh bổn thêm cho cậu để dọn mình rước lễ lần đầu. Chẳng biết Gioan vào tòa giải tội nói điều gì, xưng những tội nào, nhưng có kẻ sau này nghe linh mục đó nói:
- Ngài chưa gặp một con trẻ nào giữ linh hồn mình thanh sạch và tấm áo rửa tội còn toàn vẹn như Gioan.

Ở làng Ecully, có hai chị đi tu, chính quyền địa phương sau khi phá nhà dòng đã đuổi hai chị về quê quán với cha mẹ. Hai chị ấy sống rất nết na, đạo đức, nêu gương sáng về đời sống bác ái đối với người bệnh, kẻ hấp hối, cùng dạy giáo lý cho trẻ con và tập cho chúng biết cách xưng tội rước lễ. Gioan đến học giáo lý xưng tội rước lễ với hai chị nữ tu ấy ở làng Ecully, nên phải trọ nhà bà dì đủ một tháng. Hai chị thấy Gioan ngoan ngoãn nghiêm trang, lễ phép không quấy phá bao giờ, nên họ thương cách riêng và hay lấy gương Gioan để răn bảo các trẻ khác.

Khi Gioan đã học thuộc lòng các kinh và hiểu biết các điều cần thiết, cũng như đã dọn mình xưng tội rước lễ vừa xong thì có tin chính quyền đem quân đến lục soát làng Ecully, các linh mục ở đây lại vội vàng trốn sang nơi khác. Nhưng chỉ một tháng sau thấy yên, các ngài lại trở về Ecully.

Gioan được tin, vui mừng đến học cùng hai chị nữ tu ấy mấy ngày, sau đó được xưng tội rước lễ lần đầu cùng với mười lăm trẻ khác. Lúc đó Gioan đã mười ba tuổi. Vì cậu cùng các trẻ chịu lễ ban đêm, lén lút trong nhà tư nên chẳng có ai biết cậu đã rước lễ thế nào, nhưng chúng ta tin rằng cậu phải rước lễ sốt sắng lắm... Những trẻ cùng rước lễ với Gioan nói với nhau rằng:
- Gioan Vianney sốt sắng như thiên thần.

Từ ngày Gioan được rước lễ lần đầu, cậu càng đem lòng yêu mến Chúa hơn, cố gắng sống nhân đức ngày càng trọn hảo hơn. Các ngày lễ trọng trong thời cấm cách, cậu tìm cách đến làng Ecully trước khi trời sáng để dự lễ, và nhiều khi cậu đi lễ cả những ngày thường nữa, vì cậu rất quí trọng Thánh Lễ. Ai xem thấy cậu thờ lạy Chúa Giêsu Thánh Thể ngự trên bàn thờ cách nghiêm trang sốt sắng cũng sinh lòng mến Chúa.

Ông Mátthêu có bệnh thấp khớp, đau đớn khó chịu lắm, có khi phải nằm bốn năm ngày mới bớt; một lần kia ông phải chứng bệnh hành hạ đau đớn hơn mọi khi, lúc đó Gioan xin phép đi lễ, ông không muốn cho đi nhưng Gioan thưa:
- Xin cha cho con đi tham dự Thánh lễ, con sẽ cầu nguyện sốt sắng với Chúa Giêsu cho cha được khỏi hay là bớt bệnh.

Và điều ấy đã xảy ra như vậy.

Gioan Vianney là cậu bé dễ vâng lời, không những vâng lời trong mọi sự mà còn vâng lời mau mắn vui vẻ. Catharina, chị ruột cậu kể:
- Khi mẹ tôi bảo các em tôi làm việc gì, các em thường khó chịu, ta thán hoặc chậm chạp chán chê mới vâng lời, còn Gioan thì vui vẻ làm ngay.

Gioan có tính hiền lành, vui vẻ hòa nhã nên chẳng cãi cọ với ai, cậu cũng không nói lời gì làm mất lòng ai. Khi có ai nói xúc phạm, làm mất lòng cậu thì cậu làm thinh, vẫn vui vẻ hiền lành với người ấy nên không có ai buồn giận cậu.


Gioan Làm Ruộng

Vào thời đó, đâu đâu người ta đều lấy nghề nông làm trọng và cần hơn các nghề khác, do đó người ta thường nói: "Dĩ canh nông vi bản". Ông Adong và bà Evà, khi bị đuổi ra khỏi vườn phải cày sâu cuốc bẫm để có miếng ăn và truyền nghề ấy lại cho con cháu. Thiên Chúa khi sáng tạo đã khiến đất sinh ra mọi thứ cây trái, cây có hạt để làm thức ăn cho mọi loài; nhưng vì tổ tông loài người phạm tội nên mới phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới có của ăn. Ông Mátthêu đã già yếu không làm nổi việc nặng nên Gioan không đi chăn chiên nữa, cậu phải ở nhà đi làm ruộng cùng với anh. Việc ruộng nương nặng nhọc lắm, phần do đất đai khô cứng, phần do phương tiện quá thô sơ nên công việc dọn đất tốn rất nhiều công. Vì thế, trừ những ngày lễ trọng và lễ buộc người ta phải nghỉ việc, còn quanh năm ngày tháng nông dân phải làm luôn tay không nghỉ bao giờ.

Phanxicô và Gioan, hai anh em đi làm với nhau. Phanxicô hơn Gioan ba tuổi nên khỏe và quen việc hơn. Dù vậy, Gioan luôn cố gắng theo anh học việc và muốn làm bằng anh nên đến chiều tối thì quá mệt. Nhưng chẳng mấy chốc Gioan quen việc, làm khỏe chẳng thua kém anh bao nhiêu. Mùa nào việc ấy. Mùa gặt hái thì gặt hái, đến mùa làm hoa mầu thì làm hoa màu, trồng ngô, trồng đậu, gánh phân tưới nước; mùa nho thì tỉa cành, vun gốc, Gioan luôn chịu khó làm việc quanh năm suốt tháng, không tiếc công sức, chẳng ngại khó nhọc.

Gioan Vianney càng siêng việc phần xác bao nhiêu thì càng chăm việc phần hồn bấy nhiêu, vì cậu biết hai việc ấy phải đi đôi với nhau, hơn nữa việc phần xác không làm ngăn trở việc cậu yêu mến, kết hợp với Chúa. Ban sáng khi đi làm và ban tối khi đi làm về, cậu vừa đi vừa lần hạt. Ăn cơm trưa xong, những người cùng làm ruộng với cậu thường nghỉ trưa một giờ, còn cậu không ngủ, dành thời giờ đó để đọc kinh cầu nguyện.

Sáu mươi năm sau, khi cha Gioan Vianney đã già, ngài thường than thở:
- Xưa ở nhà cha mẹ, tôi đọc kinh luôn, lúc ở một mình tôi đọc to, còn khi có người, tôi thầm thĩ đọc trong lòng.

Vào ngày khác, ngài nói:
- Bây giờ tôi phải lo cho linh hồn người ta nên gần như chẳng còn giờ để lo cho phần linh hồn của tôi. Phải chi bây giờ tôi được như ngày xưa, khi làm ruộng cho bố mẹ, có giờ đọc kinh nguyện ngắm. Lúc ăn cơm xong, chúng bạn cùng làm chung được ngủ một giờ. Tôi cũng nằm giả vờ ngủ nhưng không ngủ, tôi nhớ đến Chúa Giêsu, thầm thĩ kêu xin và yêu mến Người. Bấy giờ tôi sung sướng lắm, ước gì bây giờ tôi được như vậy.

Không những Gioan đọc kinh ngoài miệng mà còn suy ngắm những mầu nhiệm, những lời Chúa cùng những sự thương khó Người đã chịu. Như có lời chép: "Phúc cho ai có lòng thanh sạch vì sẽ được xem thấy mặt Đức Chúa Trời". Gioan vì đã giữ toàn vẹn tấm áo rửa tội nên cậu được ơn nhớ đến Người luôn. Khi đi dạo hay làm việc ở ngoài đồng, cậu thấy cánh đồng lúa xa tít tắp, thấy cây cối trĩu nặng những quả, cậu cám ơn Chúa vì lòng nhân lành Người hằng ban của ăn nuôi muôn người. Khi nhìn bầu trời cao lộng gió, ban ngày mặt trời sưởi ấm, soi sáng, ban đêm trăng sao lấp lánh, thời tiết bốn mùa xoay vần cậu cảm tạ, ngợi khen Chúa đầy quyền năng đã dựng nên muôn sự kỳ diệu ấy.

Khi nghe sấm chớp lóe sáng và nổ rền trời, cậu nhớ đến sự công bình của Chúa mà kính sợ. Khi cày bừa, làm cỏ ruộng vườn cậu nghĩ đến "Linh hồn tôi chẳng khác gì thửa ruộng này, tôi phải cày bừa cho kỹ, đó là sửa các tính mê nết xấu thì mới mong thu được mùa lúa tốt, hoa quả tốt, là những nhân đức và công nghiệp".

Gioan Vianney nhìn mọi vật tốt tươi, xinh đẹp phô diễn nơi thế gian này như đều nhắc cậu nhớ đến Chúa để tạ ơn cùng ngợi khen Người luôn mãi. Đến tối, khi Gioan đi làm về, dù nhọc mệt đến đâu cậu cũng đọc kinh chung với cả nhà rồi còn đốt đèn xem sách giáo lý, hạnh các thánh cho đến khi buồn ngủ quá mới thôi. Cậu cố gắng tận dụng thời gian, tránh ở không, tránh chuyện gẫu hay nói những lời vô ích. Những trò giải trí thông thường mà người ta thường chơi như đánh cờ, tổ tôm, xóc đĩa thì cậu không biết vì không chơi bao giờ.

Những người trưởng thành cao niên sống nhân đức hoặc giữ đạo sốt sắng, làm gương tốt thì đáng khen nhưng chẳng có lạ gì, vì những người ấy đã từng biết vui thú thế gian thì mau qua chóng hết. Nhưng những người còn trẻ, đang tuổi mới lớn mà giữ phép tắc nết na, giữ lòng thanh sạch để yêu mến Chúa, coi thường những vui thú thế gian thì thật là người khôn ngoan và đáng khen. Vì Gioan luôn yêu mến Chúa, luôn giữ lòng thanh sạch nên không hề biết đến tội là thế nào. Khi đã già ngài thường nói:
- Khi tôi còn trẻ, tôi không biết thế nào là tội. Cho đến ngày làm linh mục, ngồi tòa giải tội cho người ta, lúc bấy giờ tôi mới biết thế nào là tội.

Vua Napoleon

Khi cuộc cách mạng Pháp bùng nổ, Kitô giáo bị ngăn cấm cùng bách hại ba bốn năm liền. Nhiều người lành và những người chết vì đạo luôn kêu xin Chúa thương đến Giáo hội hiện đang bị kẻ dữ giết hại và phá bỏ mọi lề luật cùng các quy tắc. Thiên Chúa dùng một viên tướng tên là Bonaparte để tiêu diệt quân phá đạo cùng sửa sang mọi sự trong nước. Vị tướng ấy là một thiên tài về quân sự nên ông đánh đâu thắng đó. Từ thời Alexandre đại đế, vua nước Macedonia ngày xưa cho đến nay, không có người nào đánh thắng được nhiều trận, chiếm được nhiều nước cho bằng vị tướng này.

Bấy giờ, vua ở các nước Châu Âu thấy nội tình nước Pháp ngày càng rối loạn, chia năm bè bảy mối, lo sợ loạn lạc ấy lan đến nước mình nên họ cùng nhau dấy binh dẹp loạn cách mạng và chiếm lấy nước Pháp. Chính quyền cách mạng sai tướng Bonaparte đem quân đánh trả những đạo binh của các vua. Vị tướng này đi tới đâu chiến thắng tới đó, không những đánh bật những đạo quân xấm lấn nước Pháp mà còn chiếm lấy nhiều tỉnh của các nước khác, nên các vua phải xin cầu hòa.

Tướng Bonaparte chiến thắng các nước Châu Âu nên thanh thế của ông ngày càng lớn mạnh, ở bên trong cũng như bên ngoài nước Pháp. Quân cách mạng bị mang tiếng là cướp của giết người quá nhiều cũng như phá bỏ mọi quy luật trong nước, nên dân chúng chán ghét và ước ao thoát khỏi cảnh kềm kẹp của quân cách mạng.

Tướng Bonaparte hiểu biết lòng dân như thế nên sau khi đánh giặc xong trở về nước, ông dẹp tan phe cách mạng, tha cho những kẻ lưu đày được trở về quê quán, trả tự do cho tù nhân, ông tái lập những phong tục tập quán xưa đã bị quân cách mạng phá bỏ, sửa sang mọi việc trong nước và lo liệu cho dân chúng được tự do giữ đạo.

Đúng ra, sau khi bình định xong những nước lân cận xâm lấn bờ cõi, chấn chỉnh các phong tục tập quán, tướng Bonaparte nên rước dòng dõi con cháu vua Thánh Louis về kế nghiệp, nhưng bả phù hoa làm cho vị tướng này say mê, và bởi đánh thắng được nhiều nước lớn nên ông sinh lòng kiêu ngạo. Thật đúng như lời sách đã chép: Sửa trị mình thì khó hơn cai trị thiên hạ.

Tướng Bonaparte nắm trong tay binh lực và được dân chúng mến phục, tung hô thì tự đặt mình lên làm vua, lấy hiệu là Napoleon I. Dân chúng hoa mắt bởi vinh dự do những chiến thắng của vị tướng ấy mang lại, vừa được giải thoát khỏi bị quân cách mạng ức hiếp, làm khổ đủ điều nên chẳng những bằng lòng cho tướng ấy lên làm vua mà nhiều người còn ước ao điều đó.

Nước Pháp là một nước đa số dân theo Công Giáo nên lòng đạo đức rất sốt sắng. Từ khi vua Clovêô trở lại đạo cùng với toàn thể dân chúng trong nước cho đến bây giờ, Thiên Chúa đã dùng nước Pháp mà làm nhiều điều lớn lao để danh Chúa cùng Giáo Hội của Người được vinh quang. Thời Trung Cổ, nước Pháp là quốc gia có nhiều người gia nhập Thập Tự Quân đi đánh Hồi Giáo, để lấy lại thành Giêrusalem và Đất Thánh mà quân Hồi đang chiếm giữ. Chính ông Bouillon, vua nước Giêrusalem, là dòng dõi con cháu các vua đã trị vì nước Pháp tự lâu đời.

Nước Pháp có nhiều dòng tu nam nữ góp phần cộng tác xây dựng Giáo Hội, có nhiều thừa sai đi giảng đạo cho dân ngoại và đóng góp nhiều tiền bạc giúp truyền giáo cho các nước chưa biết Chúa, nên đức giáo hoàng đã đặt nước Pháp là trưởng nữ của Giáo Hội. Trong cuộc cách mạng, vua bị giết, Kitô giáo bị bách hại, cấm cách; các linh mục, tu sĩ bị giết, bị bắt bớ tù đày ba bốn năm liền, do đó khi tướng Bonaparte đánh dẹp quân cách mạng, sửa sang mọi việc trong nước, mọi người được tự do giữ đạo thì dân chúng vui mừng biết chừng nào.

Khi Giáo Hội được sinh hoạt lại, các nhà thờ và dòng tu được trả lại cho Giáo Hội, các linh mục được tự do cử hành thánh lễ và ban các bí tích, các giáo hữu bấy lâu nay khao khát được hưởng nhờ ơn ích của các bí tích thì rất vui mừng và không ngừng tạ ơn Chúa.

Được tự do giữ đạo, người tín hữu vui mừng lắm, nhưng niềm vui ấy không được trọn vẹn vì có rất nhiều xứ, nhiều nhà thờ không có linh mục làm lễ và ban bí tích cho dân chúng. Đoàn chiên thì còn mà chủ chăn thì đã chết, vì trong cuộc cách mạng nhiều linh mục bị lên máy chém, nhiều vị phải trốn vào rừng sâu nước độc, nơi xa xôi hẻo lánh nên mắc bệnh mà chết ở đấy, không còn được bao nhiêu vị an toàn trở về nhà xứ của mình. Do đó, có nhiều người muốn dự lễ hay chịu các bí tích, họ phải đi hai ba ngày đường mới tới nơi giáo xứ có linh mục. Xứ Dardilly, quê của Gioan Vianney không có linh mục, nhưng xứ Ecully sát bên, vì có công chứa chấp bốn linh mục trong thời kỳ cấm đạo nên đức giám mục cho một linh mục về coi xứ ở đấy.

Tháng 2 năm 1807, linh mục Balley được sai về xứ Ecully là nơi ngài đã ẩn nấp suốt bốn năm cấm đạo. Cha Balley vừa đạo đức sốt sắng vừa thông thái nên đức giám mục kính nể và tín cẩn cách đặc biệt. Ngài vừa về nhận xứ thì con chiên trong xứ và các xứ lân cận không có linh mục đua nhau tuôn đến dự lễ cùng chịu các bí tích. Ngài giải tội cả ngày đêm sáu tháng liền mà chưa hết người xưng tội. Khi đã bớt người xưng tội, ngài dạy giáo lý, tập xưng tội cho những trẻ chưa được xưng tội rước lễ lần đầu. Những trẻ em mười và mười một tuổi thì rất đông, nhưng những trẻ em từ mười ba cho tới hai mươi thì còn đông hơn nữa.

Cha Balley dù vất vả với công việc mục vụ cho giáo xứ của mình và các giáo xứ lân cận, nhưng cha luôn nhớ đến lời Chúa Giêsu phán: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít". Do đó ngài quyết định mở trường Latinh cho những ai muốn dâng mình cho Chúa, làm linh mục dẫn dắt các linh hồn về với Chúa. Ngài tin rằng đây là điều Chúa muốn và chính Người đã soi sáng cho ngài mở trường dạy trẻ.

Trong những người đến học với ngài, có nhiều người đã chịu chức linh mục, phục vụ và giúp ích cho Giáo Hội rất nhiều nhưng có hai người nổi tiếng hơn hết là Đức Cha Matthia đi truyền giáo ở Châu Mỹ và Cha Gioan Vianney, cha sở họ Ars.

Các linh mục dạy bảo trẻ em về ơn thiên triệu, uốn nắn dạy dỗ chúng trung thành với ơn gọi đó thì làm ích cho Giáo Hội. Như xưa Thánh Ambrôsiô làm được nhiều điều vinh danh Chúa, lợi ích cho Giáo Hội và các linh hồn, tỉ như thánh nhân khuyên bảo Thánh Augustinô bỏ đạo rối trở lại đạo Công Giáo thì đem lại cho Giáo Hội nhiều ơn ích hơn các việc khác ngài đã làm. Cũng thế, cha Balley mở trường Latinh dạy dỗ Gioan và những trẻ em khác, để chuẩn bị mầm non sẽ tiến lên chức linh mục, là việc quan trọng và hữu ích hơn các việc khác cha đã làm.


Gioan Vianney Học Latinh

Khi cha Balley về nhận giáo xứ Ecully thì xứ Dardilly cách đấy khoảng một giờ đi bộ, vì không có linh mục nên giáo dân đua nhau đi lễ, xưng tội ở xứ Ecully. Gia đình ông Mátthêu siêng năng đi lễ và xưng tội ở xứ Ecully, nhất là Gioan, cậu siêng đi lễ và chầu Mình Thánh, không phải chỉ Chủ Nhật và các ngày lễ trọng mà cả ngày thường nữa. Gioan quen quỳ ở hàng ghế đầu, gần bàn thờ, khi dự lễ cậu nghiêm trang sốt sắng nên cha xứ để ý và đem lòng yêu mến.

Ngày Gioan còn bé, thỉnh thoảng cậu mới nghĩ đến việc làm linh mục nhưng từ khi tôn giáo được mở rộng, cậu thường dự lễ nên thấy linh mục là người dâng lễ, truyền phép Mình Thánh và chịu lễ hàng ngày là người có phúc hơn cả. Cậu không dám nói ra nhưng lòng ước ao cũng được phúc trọng ấy. Trong lúc xưng tội, cậu ngỏ ý với cha giải tội, cậu muốn làm linh mục để phục vụ Giáo Hội. Cha Balley nghe biết thì mừng lắm, cha bảo cậu về xin cha mẹ lo liệu cho cậu vào trường học tiếng Latinh. Bấy giờ cha Balley chưa mở trường Latinh.

Gioan trình bày mọi sự với cha mẹ như lời cha giải tội dạy. Mẹ cậu vui mừng muốn lo liệu cho Gioan vào trường Latinh ngay vì bà đã dâng con cho Chúa ngay từ khi con còn ở trong bụng. Nhưng ông bố bảo Gioan:
- Việc con xin, cha chưa lo được vì cha có hai việc rất cần, phí tổn mất hai ba ngàn quan, nên thong thả cha sẽ lo liệu việc đó cho con.

Gioan nghe cha nói như vậy thì hoãn việc học Latinh lại. Cậu không buồn mà cũng chẳng phàn nàn vì cậu tin chắc: Nếu Chúa đã định cho mình làm linh mục thì sớm muộn gì Người cũng sẽ lo liệu.

Hai năm sau cha Balley mở trường Latinh dành cho những người muốn dâng mình cho Chúa. Mẹ của Gioan biết điều ấy thì xin chồng cho Gioan đi học. Ông Mátthêu thấy không phải mất tiền nuôi và trả tiền học phí nên chấp nhận cho Gioan đi học.

Cha Balley thấy Gioan Vianney lớn tuổi, lúc ấy đã mười chín, phần thì dốt, chỉ mới biết đọc nên lúc đầu hơi ngần ngại, nhưng ngài biết Gioan là người có lòng đạo đức, sốt sắng hơn những người khác nên bằng lòng nhận và nói với Gioan:
- Cha thương con cách riêng nên cha nhận. Hy vọng sẽ giúp con đạt được ước nguyện làm vinh danh Chúa và cứu các linh hồn.

Gioan được nhận và nghe những lời yêu thương ấy thì tạ ơn và suốt đời kính mến ngài như cha ruột. Gioan đến trọ tại nhà bà dì tên là Margarita, ở làng Ecully để đi học Latinh.

Thời Đi Học

V ề cách ăn nết ở, về cách làm việc trong nhà, ngoài đồng, Gioan khôn khéo cẩn thận không thua kém ai nhưng còn về việc học Latinh thì cậu tối dạ, kém trí hơn những người khác, do đó trong những năm học ở trường Latinh, Gioan chịu bao khổ sở cay đắng và xấu hổ nhục nhã lắm. Mọi sự đều do Chúa an bài vì Chúa thường hay dùng người khiêm nhường hèn hạ trước mặt thế gian để làm những việc lớn lao vĩ đại để tỏ cho thế gian thấy quyền phép của Người. Người chọn Gioan để làm sáng danh Người trước mặt thiên hạ, làm nhiều phép lạ và cứu muôn linh hồn nên Người phải gột rửa hết tính kiêu ngạo trong lòng Gioan. Người phải hạ cậu xuống để biết mình thấp hèn, biết sống khiêm nhường, đặt mình ở dưới hết mọi người, không tin mình có nhân đức, có tài năng gì, để sau này khi làm phép lạ và bao điều tốt lành, Gioan tin là bởi quyền phép Chúa chứ không phải bởi sức riêng của mình.

Ở Châu Âu, mười chín tuổi thì đã học xong trường Latinh rồi, mà Gioan chỉ mới bắt đầu học tiếng ấy. Đã lớn mà lại tối dạ, trí hiểu đã kém mà trí nhớ còn kém hơn, nghe cắt nghĩa năm lần bảy lượt vẫn chưa hiểu. Điều này học thuộc thì quên điều trước.

Cha Balley thấy Gioan chậm hiểu thì yên ủi, khuyến khích, không hề la mắng. Gioan Vianney thấy mình học hoài chẳng được thì buồn lắm nhưng cậu không ngã lòng thất vọng, luôn trông cậy vào Chúa và cầu xin Chúa soi lòng mở trí cho mình. Cậu tin rằng Chúa sẽ ban ơn cho kẻ Người đã kêu gọi, nên không những cậu kêu xin luôn mãi mà còn làm nhiều việc lành khác như: bố thí cho người nghèo, hãm mình ăn chay, ăn cơm muối, không dùng thịt cá. Cậu cũng hạ mình ở khiêm nhường với mọi người, đến giúp việc nhà xứ như cuốc vườn, bổ củi, gánh nước, rửa bát, quét nhà như đứa làm thuê.

Lúc đó, đức giám mục địa phận là cậu của vua Napoleon đến kinh lược xứ Ecully và ban phép thêm sức cho các trẻ trong xứ và các xứ lân cận. Giáo hữu trong miền từ lâu không được thấy đức giám mục thì ước ao được gặp và họ tổ chức đón rước thật long trọng. Dịp ấy Gioan cũng được chịu phép thêm sức và có thêm tên thánh là Gioan Baotixita. Tự lúc đó cậu xưng mình là Gioan Maria Baotixita.

Nhân dịp chịu phép thêm sức, cậu sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Thiên Chúa soi lòng mở trí để cậu học, hiểu được như chúng bạn. Dù cậu đã cầu xin lâu ngày và sốt sắng hết sức, trí khôn của cậu vẫn chậm chạp và tối tăm như trước không khá hơn tí nào, do đó cậu hoài nghi không biết Chúa có gọi mình hay không? Mình có ơn thiên triệu không? Bởi cậu hồ nghi về ơn thiên triệu nên xin cha Balley về quê thăm cha mẹ, nhưng cha không cho cậu về. Ngài dùng lời nhẹ nhàng mà khuyên bảo:

- Gioan Vianney ơi! Sao con ngã lòng? Sao con muốn về nhà? Con mà về lúc này thì cha mẹ sẽ giữ con ở nhà, không cho đi học nữa, mà con không làm linh mục, không đem nhiều linh hồn về cho Chúa thì thiệt hại cho con lắm.

Gioan nghe lời ấy thì hối hận tự trách mình đã ngã lòng và cậu vâng lời cha Balley ở lại, dốc lòng kêu xin, trông cậy Chúa, Mẹ vững vàng hơn. Cậu muốn đi viếng mộ Thánh Phanxicô Regis, thánh nhân là người khi xưa đã giảng đạo trong miền ấy, để xin thánh nhân cầu bầu cho mình có đủ trí khôn học những điều cần, để ngày sau được noi gương thánh nhân cứu vớt nhiều linh hồn cho Chúa. Khi đã được phép của cha Balley đi viếng mộ Thánh Phanxicô Regis, cậu đi chân không, vừa đi vừa ăn xin thực phẩm nuôi thân như những người nhân đức thường quen làm khi đi viếng mộ các thánh.

Trong những ngày đi đường, cậu phải chịu nhiều khổ cực và xấu hổ nhục nhã, phần thì chân sưng đau đớn, phần thì đói khát. Vì khi xin ăn, người ta thấy cậu vóc dáng khỏe mạnh không phải dáng điệu người nghèo thì họ cho là phường trộm cắp hay người thua bạc nên mắng chửi rồi đuổi đi, không cho thức ăn gì mà lại chẳng cho ở trọ.

Chúa Giêsu hay nhậm lời những người có lòng tin. Như khi xưa Chúa phán cùng viên sĩ quan: "Ông tin thế nào thì được như vậy".

Chúa Giêsu cũng nhận lời Gioan cầu xin và lời Thánh Phanxicô Regis cầu bầu mà soi lòng mở trí cho cậu. Vì từ khi cậu đi viếng mộ thánh về thì trí khôn sáng suốt hơn trước nhiều khiến cha Balley cũng lấy làm lạ. Gioan không quên ơn Thánh Phanxicô Regis đã cầu bầu cho mình bao giờ. Cậu sắm ảnh tượng vị thánh để trong phòng và trông cậy cầu xin Thánh Phanxicô Regis.

Năm mươi năm sau, khi cha Gioan Vianney đã già, có lần ngài làm phúc cho một người ăn mày rồi bảo:
- Việc làm phúc bố thí thì dễ hơn là đi ăn mày. Khi còn trẻ, tôi chỉ đi ăn mày có một lần thôi, nhưng bất hạnh lắm, vì người ta cho tôi là thằng trộm cướp hay là đứa thua bạc nên mắng nhiếc đuổi đi, chứ chẳng cho gì cả.

Gioan Vianney Phải Đi Lính

Gioan vừa khỏi tối dạ, tâm trí mở mang học hành tấn tới theo kịp với chúng bạn thì vui mừng, nhưng chẳng được bao lâu, vì cậu vừa khỏi thập giá này, thì đã có thập giá khác. Luật nước Pháp miễn cho những người đang học làm linh mục khỏi đi lính, nhưng vua Napoleon rất kiêu ngạo, tham lam muốn chiếm cả Âu châu, bắt vua các nước khác phải thần phục mình nên đánh nhau luôn. Vì chiến tranh liên miên như thế nên hao quân tổn tướng. Năm ấy, vua đánh nước Tây Ban Nha, cần nhiều quân nên cho bắt lính cả những người đang theo học trường Latinh, cả những thầy lớp thần học sắp chịu chức linh mục. Gioan thấy mình phải bỏ học để đi lính thì buồn bã âu sầu. Dù gì đi nữa, cậu cũng phải đi vì luật pháp rất gắt gao. Ông Mátthêu thấy con buồn sầu thì cũng đau lòng lắm, ông muốn Gioan ở nhà nên không tiếc tiền, bỏ ra một ngàn quan để thuê người đi lính thay cho con mình. Có người đã nhận lời và nhận tiền để đi thay cho Gioan nhưng ngày hôm sau nó nghĩ lại, đem trả tiền không chịu đi thay. Vì vậy ngày 25 tháng 10 năm 1809, Gioan phải từ giã cha Balley và cha mẹ để lên đường nhập ngũ. Gioan rất buồn khi phải nghỉ học nửa chừng nên khi vừa đến tỉnh thì lâm bệnh, cấp trên phải đưa vào nhà thương. Sau 15 ngày nằm ở nhà thương, chỉ mới khỏe được một chút thì cấp trên đã bắt phải đi để kịp đến chỗ chuyển giao quân số. Nhưng Gioan mới đi được một ngày thì lại bị sốt nặng nên phải trở lại nhà thương... Lần nầy Gioan phải nằm nhà thương mất sáu tuần lễ mới khỏe hẳn.

Lúc Gioan đang nằm nhà thương, có người biết cậu đang học Latinh chuẩn bị làm linh mục thì muốn lo liệu cho cậu trốn lính nhưng cậu không chịu. Đúng ngày chuyển giao quân số, Gioan dậy sớm đi dự lễ, sau đó cậu còn ở lại đọc kinh cám ơn nên khi đến nơi thì đã trễ cho việc chuyển quân, binh lính đã lên đường. Vị sĩ quan coi việc chuyển quân giận lắm, ông quát tháo và đe dọa sẽ bỏ tù Gioan, nhưng sau đó thì nguôi giận mà cấp giấy cho Gioan để theo kịp đoàn quân đã đi trước.

Gioan vâng lời, tay cầm súng, vai khoác balô đi ngay. Cậu vừa rảo bước vừa lần hạt, nhưng dù đi mau hết sức cậu vẫn không thấy bóng đoàn quân đâu. Dù đã khỏi bệnh nhưng trong người chưa được khỏe hẳn nên lúc chiều về, mặt trời xế bóng thì cậu quá mệt nhọc, nhưng cứ đi không dám nghỉ.

Bấy giờ, có một thanh niên đi đường thấy Gioan mệt mỏi thì hỏi thăm. Gioan thật tình kể hết mọi sự, người thanh niên ấy nghe xong và nói: "Tôi rất thông cảm với anh. Anh đưa đồ tôi mang cho và tôi sẽ dẫn anh tới nơi đóng quân của đoàn quân ấy". Gioan mừng quá liền trao súng và túi mà đi theo. Người thanh niên đi đường lộ được một đoạn rồi băng qua cánh đồng đi lên phía rừng núi. Đi cho tới nửa đêm mới tới một làng tên là Noe. Đến làng, người thanh niên gõ cửa một nhà nọ. Chủ nhà mở cửa. Hai người nói nhỏ với nhau điều gì đó rồi chủ nhà mở cửa mời Gioan vào, dọn cơm nước và chỗ cho Gioan nghỉ. Lúc ấy, Gioan không hiểu người thanh niên có ý đồ gì, mãi cho đến hôm sau mới biết.

Như đã nói, vua Napoleon quyết chiếm lấy các nước Châu Âu nên chiến tranh xảy ra liên miên, nhà vua phải tổng động viên, bắt tất cả thanh niên từ 18 tuổi trở lên phải đi lính. Trong cả nước, không mấy nhà không có tang tóc vì con tử trận nên dân chúng buồn giận kêu trách vua và tìm cách cho con mình trốn lên rừng hay ẩn kín để không phải ra trận.

Nơi Gioan đang ở là nơi rừng núi, chốn xa xôi, lính tráng không mấy khi tới nên có nhiều người trốn trong miền ấy để khỏi đi lính. Người thanh niên Gioan gặp cũng là người trốn lính, anh ta thương Gioan nên muốn lo cho Gioan trốn ở đấy khỏi đi đánh giặc. Sáng ra, anh đưa Gioan vào nhà trưởng ấp. Trưởng ấp là người hiền lành, tốt bụng. Vừa thấy Gioan, ông mỉm cười trấn an vì tưởng Gioan đến đây trốn lính như những người khác, ông nói:
- Anh đừng sợ gì hết, ta sẽ liệu cho anh yên thân.

Rồi ông hỏi tên, hỏi Gioan ở nhà làm gì. Khi biết Gioan đang học Latinh có ý làm linh mục thì ông vui mừng nói:
- Ở đây có nhà trường nhưng không có thầy dạy, nếu anh bằng lòng dạy trẻ thì ta sẽ liệu nhà ở, cơm ăn áo mặc cùng mọi sự.

Ông đổi tên Gioan là Hiêrônimô nên dân làng cứ gọi Gioan là thầy Hiêrônimô. Gioan không có ý trốn lính, cũng chưa bao giờ nghĩ tới điều đó, nhưng sự việc xảy ra như vậy khiến cậu nghĩ rằng Chúa muốn cậu ở đó để dạy trẻ con trong làng.

Làng Noe rất có kỷ cương khuôn phép, dân làng hiền lành đạo đức, chỉ biết làm ăn giữ đạo vuông tròn chẳng có mấy ai ăn chơi quấy phá. Dân làng thấy Gioan chịu khó dạy dỗ con cái họ, tính nết lại nghiêm trang nết na, một tuần rước lễ ba bốn lần thì ai nấy đều kính trọng. Các em học sinh cũng rất quý mến thấy Hiêrônimô. Ban ngày thầy dạy chữ, ban đêm thầy dạy giáo lý rồi cùng đọc kinh với nhau. Những lúc dạy giáo lý, cậu cũng đọc hạnh các thánh cho các em nghe. Dần dà người lớn cũng lân la đến đọc kinh, cùng nghe đọc sách với bọn trẻ. Linh mục chánh xứ thấy Gioan có lòng đạo đức sốt sắng thì rất yêu mến.

Thỉnh thoảng quan quân đi kiểm tra, lục soát làng Noe, xem có người trốn lính nào ở đấy không. Có một lần quan quân đến bất ngờ không ai biết trước. Bí quá, Gioan phải trốn vào đống rơm, nóng nảy ngứa ngáy và ngạt thở suốt ngày. Lần đó khổ đến nỗi cậu phải nói:
- Từ bé đến giờ chưa bao giờ chịu khổ như thế.

Từ bấy giờ, dân làng sợ quan quân bắt được người trốn lính ở trong làng thì mắc tội với vua nên sắp đặt hai người nhặt cỏ ở hai đầu làng. Hễ thấy quan quân từ xa thì báo tin để đưa Gioan cùng những người khác trốn xuống hầm đào sâu dưới đất.

Đến mùa gặt hái, trẻ con phải nghỉ học ở nhà phụ làm với cha mẹ thì Gioan cũng đi làm, nay giúp nhà này, mai giúp nhà khác. Gặt hái, gánh lúa, cậu làm được mọi việc như khi còn ở nhà với cha mẹ nên dân làng, từ già cho đến trẻ, ai nấy đều yêu mến Gioan. Cậu cũng thương mến làng ấy, nên khi về già cha Gioan vẫn nhắc tới làng Noe đã thương mình trong lúc khốn khó với lòng biết ơn sâu xa.

Năm 1834, khi Gioan đang làm linh mục chánh xứ họ Ars, có một bà đã cho ngài trọ khi xưa ở làng Noe đến xưng tội với ngài. Cha Gioan vui mừng và tiếp đãi bà ấy rất lịch sự. Ngài nói với bà ấy:
- Tôi đã xin về hưu nghỉ coi xứ. Nếu đức giám mục cho tôi nghỉ thì tôi sẽ vào nhà dòng hay về làng Noe sống hưu dưỡng và dọn mình chờ chết.


Gioan Vianney Trở Về Học Latinh

Những người trong xứ Dardilly, Ecully và nhất là gia đình ông Mátthêu không nhận được tin gì về Gioan thì đoán là cậu đã tử trận. Nhưng cha Balley, cha chánh xứ Ecully tin tưởng Chúa sẽ phù hộ và đưa Gioan về nhà bằng yên, để cậu làm linh mục, cứu nhiều linh hồn về với Chúa.

Cha mẹ Gioan không những phải đau khổ vì không được tin gì về con mình, còn sống hay đã chết, mà họ còn bị phiền nhiễu bởi quan quân thỉnh thoảng lại đến khám nhà, vu vạ cho ông Mátthêu che giấu con mình ở đâu đấy, nên họ cứ đe dọa bỏ tù ông Mát-thêu.

Sau khi Gioan ẩn náu ở làng Noe hơn một năm, cậu mới có dịp gửi thư về nhà hỏi thăm sức khỏe cha mẹ. Mẹ của Gioan biết chắc con mình còn sống thì nước mắt chan hòa vì quá vui mừng, nhưng cha của Gioan không muốn con mình vi phạm luật quốc gia để trở thành tội phạm nên viết thư buộc con phải ra đầu thú với chính quyền và phải đi lính cho tròn bổn phận công dân. Lúc đó, em trai của Gioan, dù chưa tới tuổi lính, cũng xin tình nguyện đi lính thay cho anh, để anh ở nhà đi học, với điều kiện là Gioan phải nhường phần gia tài đáng giá ba ngàn quan cho mình. Gioan thường ước ao được ở nhà đi học để làm linh mục nên sẵn lòng nhường phần gia tài của mình cho em. Vì vậy Gioan được ở nhà không phải đi lính.

Khi mọi việc đã sắp xếp với chính quyền xong, Gioan từ giã làng Noe về lại Ecully để học tiếp tiếng Latinh. Người làng Noe thấy Gioan bỏ làng về quê quán, ai nấy đều thương tiếc. Kẻ khóc, người đem tiền bạc đưa tiễn Gioan. Có một bà nhà nghèo, tài sản chỉ có một con heo và một con dê, bà bán con heo lấy tiền cho Gioan đi đường và nài ép cho tới lúc cậu chịu nhận mới thôi.

Gioan dạy học ở làng Noe được mười bốn tháng, sau đó trở về làng Ecully học Latinh với cha Balley, là cha xứ và cũng là cha linh hướng của mình, cậu cảm thấy thật hạnh phúc sung sướng. Cậu về làng Ecully học được ba tháng thì mẹ cậu qua đời. Gioan nghĩ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của mẹ, cũng như đã lo lắng cho mình được học tiếng Latinh thì khóc lóc thảm thiết, nhưng khi nghĩ lại thánh ý Chúa đã định cho người mẹ được ơn chết lành, được rỗi linh hồn và an nghỉ trong Chúa đời đời thì cậu mới bớt ưu phiền.

Gioan Vianney Học Triết Thần
G
ioan học trường Latinh đã bảy năm, cha Balley thấy cậu lớn tuổi nên cho cậu học triết vào tháng 11 năm 1812.

Ở trường Latinh, Gioan vất vả khổ cực một phần thì khi ở trường triết học, cậu phải xấu hổ khổ cực gấp mười lần. Trong hai năm, so với các sinh viên cùng trường, Gioan là người lớn tuổi nhất và cũng khờ khạo dốt nát nhất. Giáo sư dạy triết giảng và cắt nghĩa bằng tiếng Latinh, sách học cũng in bằng tiếng Latinh, sinh viên đọc bài và trả lời câu hỏi của giáo sư cũng bằng tiếng Latinh, không được nói tiếng Pháp. Vì danh từ và ngữ vựng Latinh của Gioan quá ít, không đủ để hiểu sách mình đọc, không hiểu điều giáo sư cắt nghĩa, do đó cũng không trả lời được điều nào. Những sinh viên khác, dưới hai mươi tuổi, thấy Gioan đã trên hai mươi mà dốt nát, kém cỏi nên hay cười nhạo cậu.

Gioan thấy mình đần độn, tối dạ hơn mọi người, lại thấy chúng bạn cười nhạo thì buồn bã, xấu hổ và lo sợ mình không học được có thể bị cho về, không được làm linh mục. Nhưng cậu không hề than trách hờn giận anh em bạn mà vẫn hòa nhã, vui vẻ. Gioan biết chỉ có một mình Chúa mới có thể cứu giúp mình mà thôi, nên cậu trông cậy kêu van đêm ngày, xin Chúa soi lòng mở trí để học hành tấn tới cũng như thêm sức cho mình để chịu khó học hành. Có một số bạn học thấy Gioan hiền lành, khiêm nhường, đạo đức, giữ kỷ luật thì rất kính trọng và coi Gioan như một người nhân đức. Nhưng trong trường có đủ mọi hạng người, tốt cũng như xấu. Có một sinh viên xấu nết hay cười nhạo Gioan. Hắn thấy Gioan không buồn, không giận lại vui cười thì càng giận dữ và trêu chọc hơn nữa. Nhưng dù hắn nói thế nào hay làm gì, Gioan vẫn không đáp lại, không chấp việc hắn làm. Thấy vậy, hắn cho rằng Gioan khinh thường mình nên xông vào đánh Gioan. Dù to con và khỏe mạnh hơn, Gioan không đánh trả, mà còn quì gối xin hắn tha cho mình. Sinh viên ấy thấy Gioan nhân đức lạ lùng như thế thì nguôi giận, xấu hổ bỏ đi. Từ đấy, hắn rất kính nể và không còn trêu chọc Gioan nữa.

Gioan càng ngày càng thăng tiến trên con đường thánh thiện. Các giáo sư dạy học đều khen ngợi về hạnh kiểm của Gioan, còn về việc học thì cậu cũng tấn tới một chút so với lúc mới vào, nhưng còn kém xa chúng bạn. Đến cuối năm, tới kỳ khảo hạch, Gioan bối rối sợ hãi không trả lời được câu nào nên bề trên quyết định Gioan phải ở lại học triết một năm nữa. Cha Balley thấy Gioan buồn bã xấu hổ thì ngài xin cha giám đốc chủng viện cho Gioan về xứ Ecully học triết với ngài, và cha giám đốc ưng nhận. Cha Balley hết lòng dạy Gioan đêm ngày. Được khoảng năm tháng, cha Balley mời cha chính địa phận và cha giám đốc chủng viện đến thăm xứ Ecully. Nhân dịp đó, cha xin khảo hạch cho Gioan. Các cha thấy Gioan trả lời được các câu hỏi và các ngài cho là đủ, nên ưng thuận cho Gioan được lên học thần học.

Gioan Học Thần Học và Chịu Chức Linh Mục
T
háng 7 năm 1813, Gioan được vào trường thần học. Trong hai năm học, Gioan càng thăng tiến trong đàng nhân đức. Về đức khiêm nhường, vâng lời, giữ kỷ luật, đạo đức và các nhân đức khác thì cậu vượt xa các anh em bạn học, nhưng về sức học, dù không còn tối dạ như ngày trước, nhưng vẫn còn thua kém anh em xa lắm. Cha giám đốc có lòng thương thầy Gioan cách đặc biệt nên ngài cho một thầy khác đã cao niên và giỏi thần học để dạy riêng cho Gioan.

Bấy giờ địa phận Lyon cùng các địa phận khác trong nước Pháp thiếu linh mục trầm trọng. Có nhiều giáo xứ không có linh mục coi sóc nên việc đạo đức chểnh mảng, thiệt hại nhiều cho giáo dân. Vì thế, những thầy ở lớp của Gioan mới học thần học có bốn năm tháng thôi, đều được cha giám đốc chủng viện cho chịu chức năm. Phần thầy Gioan Vianney, các giáo sư thấy hạnh kiểm của thầy thì tốt nhưng việc học thì kém quá nên họ rất phân vân. Có người bàn nên cho thầy về nhà vì tối dạ quá không học được. Trong lúc đắn đo như vậy, các ngài đệ trình sự việc cho Tòa Giám Mục để xin đấng bản quyền suy xét.

Bấy giờ đức giám mục đi vắng, cha chính địa phận đại diện đức giám mục khảo hạch khả năng thần học của các thầy. Cha chính đã biết rõ về thầy Gioan qua cha Balley, và vì tin lời cha Balley, cũng như biết cha là người đạo đức thâm trầm nên ngài gọi Gioan đến và khảo hạch riêng trong phòng. Gioan trả lời những câu hỏi của cha chính cũng vừa đủ không đến nỗi kém quá nên ngài bằng lòng cho Gioan chịu chức năm.

Khi các giáo sư dạy thần học trình bày cho cha chính biết trường hợp của Gioan, và muốn biết quyết định của ngài như thế nào, cha chính hỏi:
- Về lòng đạo đức sốt sắng của Gioan thế nào? Có lòng yêu mến Thiên Chúa không?

Các giáo sư đều trả lời:
- Về phần đạo đức sốt sắng, cách ăn ở khiêm nhường cùng các nhân đức khác thì Gioan hơn hẳn anh em bạn học, chỉ mỗi tội là học quá kém thôi.

Nghe thế cha chính trả lời:
- Ta bằng lòng cho thầy Gioan chịu chức năm, thầy có thiếu điều gì thì Chúa sẽ bù đắp cho.

Ngày 2 tháng 7 năm 1814 thầy Gioan Vianney chịu chức năm tại nhà thờ Chính Tòa Lyon.

Không ai kể hết nỗi vui sướng cùng tâm tình tạ ơn Thiên Chúa của thầy Gioan trong ngày ấy. Khi lễ truyền chức vừa kết thúc, mọi người hát kinh Benedictus, Tạ ơn Thiên Chúa, đến câu "Et tu, puer propheta Altissimi vocaberis", thầy Gioan hát lời ấy thật lớn tiếng và sốt sắng đến nỗi ai ai cũng nghĩ rằng mai này thầy Gioan sẽ là tiên tri, làm nhiều điều sáng danh Chúa.

Năm sau, ngày 23 tháng 7 năm 1815, thầy Gioan chịu chức sáu. Trong những người chịu chức sáu cùng với thầy Gioan, có hai vị ngày nay đã được Giáo Hội tôn phong lên bậc Chân Phước. Cùng năm ấy, ngày 13 tháng 8, thầy Gioan chịu chức linh mục, khi đó thầy đã hai mươi chín tuổi.

Cha Gioan từng phải vất vả khó nhọc và chịu nhiều xấu hổ cay đắng suốt mười hai năm trọn cho tới ngày tiến chức linh mục nên cha vui mừng và tạ ơn Chúa biết là chừng nào. Bởi vì cha khiêm nhường không tỏ lộ cho ai biết, nhưng qua những lời cha nói sau này về sự cao trọng của thiên chức linh mục, chắc hẳn khi ấy cha đã tạ ơn Thiên Chúa biết là chừng nào!

Cha Gioan Vianney Về Giúp Xứ Ecully

Những ngày tạ ơn sau khi cha Gioan chịu chức linh mục đã qua, đức giám mục bổ nhiệm cha về làm phụ tá cho cha Balley xứ Ecully. Cha Balley thấy Gioan là học trò mình đã thương yêu và dạy dỗ khó nhọc lâu năm được chịu chức linh mục, mà còn được về xứ Ecully giúp đỡ mình nữa thì cám ơn Chúa và Mẹ vô ngần. Cha Gioan lại càng vui mừng hơn nữa vì ngài thật lòng muốn đền đáp ơn nghĩa cho cha Balley là cha linh hướng, là thầy dạy, là người bảo hộ bênh vực và lo cho mình bấy lâu nay. Giờ đây cha Gioan còn được cha Balley hướng dẫn chỉ bảo cho biết cách làm việc, cùng tập nhân đức cho xứng với chức linh mục.

Giáo dân xứ Ecully cũng mừng lắm, vì họ biết cha Gioan nổi tiếng nhân đức ngay từ khi còn là học sinh trường Latinh, cho nên ngày nay khi làm linh mục, chắc chắn ngài phải nhân đức hơn bội phần. Riêng cha Gioan được về giúp xứ Ecully và làm phó cho cha Balley thì rất vui mừng nhưng vẫn phải chịu một điều xấu hổ và đau lòng. Đó là khi đức giám mục bổ nhiệm linh mục nào đi coi xứ thì cũng ban cho khả năng giải tội và thi hành các bí tích cho giáo dân trong xứ ấy. Nhưng cha Gioan, khi về giúp xứ Ecully thì chưa được cho phép để giải tội.

Đức giám mục bắt cha phải học lại thần học với cha Balley một thời gian nữa mới được giải tội. Cha Gioan lấy điều này làm tủi thân xấu hổ lắm nhưng vì khiêm nhường nên cha vâng lời đức giám mục, là người đại diện cho Chúa, và chịu khó học đi học lại sách luân lý thần học hai ba lượt. Sau đó cha Balley trình với đức giám mục, ngài mới ban năng quyền giải tội cho cha Gioan.

Khi vừa được đức giám mục ban cho quyền ấy, giáo dân đua nhau đến xưng tội với cha. Cha Gioan hiền lành hay thương xót, lại có ơn đặc biệt khuyên bảo được kẻ có tội; ai nghe lời cha khuyên bảo đều ăn năn ghét tội và yêu mến Thiên Chúa, do đó người nào đã đến xưng tội với cha một lần thì cứ muốn xưng mãi với cha, không muốn xưng tội với cha khác.

Trong hai năm, cha Gioan làm phó xứ cho cha Balley, ngài cố gắng thăng tiến trên đường nhân đức và chu toàn các bổn phận của mình một cách kỹ càng chu đáo. Cha chính, cha phó hòa thuận yêu thương nhau, ở với nhau một nhà, ăm một mâm, đọc kinh Nhật Tụng với nhau, siêng năng chầu Mình Thánh như nhau.

Cha Gioan yêu mến cha Balley như con yêu cha, học trò yêu thầy. Quả thật, cha Balley là một vị thánh, là gưỡng mẫu của mọi nhân đức, cha làm lễ nghiêm trang sốt sắng như một thiên thần. Chỉ cần thấy cha quì nghiêm trang, nhìn say đắm vào nhà tạm lâu giờ, ai ai cũng sinh lòng yêu mến Chúa. Cha hiền lành, khiêm nhường, chăm chỉ thi hành bổn phận của mình mà không hề tiếc công, tiếc sức. Khi có tiền, cha bố thí cho người nghèo; cha chỉ ăn ngày có một bữa mà lại ăn kham khổ, chẳng mấy khi cha ăn thịt cá nên thân xác còm cõi, mặt mày hốc hác.

Khi cha Gioan đã già, ngài kể chuyện cha Balley hãm mình như sau:
- Thỉnh thoảng nhà bếp dọn thịt cho chúng tôi ăn nhưng cha Balley không ăn miếng nào. Tôi thấy ngài không ăn thì cũng chẳng dám ăn. Nhà bếp bưng đi bưng lại, bưng ra bưng vào cũng một đĩa thịt ba bốn ngày không thấy chúng tôi ăn thì không dọn thịt nữa. Những đồ ăn khác cũng vậy, ngài chỉ ăn qua quít một hai củ khoai, một chút canh. Ôi! Tiếc thay tôi không được ở với ngài lâu năm, vì ngài chết sớm. Nếu tôi được ở với ngài lâu thì tôi đã nên khôn ngoan và bắt chước được nhân đức của ngài một ít rồi.

Cha Gioan nói rất thật không thêm bớt. Vì cha đã cố gắng bắt chước cha Balley trong mọi sự, mà học trò cũng không kém thầy. Cha Gioan cố gắng đi đàng nhân đức, ăn chay hãm mình, phạt xác, tính tình hiền lành, khiêm nhượng hòa nhã, thương yêu mọi người nhất là người nghèo hèn hạ. Khi có đồng nào cha bố thí hết cho người nghèo. Ngài chỉ có một cái áo chùng thâm và mặc mãi cho đến khi cũ rách quá không mặc được nữa thì ngài mới chịu sắm áo khác.

Có một lần cha Balley thấy ngài mặc áo đã bạc màu thì bảo cha Gioan phải sắm áo khác sạch sẽ, xứng đáng với danh phận linh mục thì ngài vâng lời ngay và đưa tiền cho thợ may áo mới. Sau đó hai ngày, có một người mà gia đình trước kia sang trọng giàu có lắm, nay phải sa cơ thất thế, tán gia bại sản, đến xin ngài giúp đỡ. Cha đến nhà thợ may lấy lại tiền đã giao hôm trước-cũng may mà người thợ chưa tiêu--để giúp cho người đang gặp khó khăn ấy. Cha chu toàn bổn phận của mình cách sốt sắng mau mắn; người ta muốn xưng tội lúc nào, cha giải tội lúc ấy. Bất kể giờ nào có người đến đón ngài đi xức dầu kẻ liệt, dù ban ngày hay ban đêm, dù mưa gió, nắng nôi hay giá rét, cha đi ngay mà không hề chần chừ. Nghe cha khuyên bảo kẻ liệt về phúc thiên đàng, ai nấy đều cảm động muốn chết ngay, muốn từ bỏ mọi sự thế gian này để được lên thiên đàng.

Cha Balley Qua Đời
Cha Balley chưa già lắm, mới có sáu mươi chín tuổi nhưng bề ngoài thật lọm khọm, vì khi bé cha phải vất vả lao nhọc. Khi cha thụ phong linh mục năm hai mươi lăm tuổi, đi giúp xứ được mấy năm thì gặp cuộc cách mạng. Quân cách mạng bắt đạo dữ lắm, nhưng cha thương con chiên không nỡ bỏ họ mồ côi nên trong thời gian bắt đạo quyết liệt, cha vẫn ở lại giữa xóm đạo để an ủi những giáo dân của mình lúc khốn khó và ban bí tích cho người bị bệnh nặng, hấp hối. Vì vậy cha phải trốn chui trốn nhủi, nay ẩn chỗ này, mai nấp chỗ khác, thật khổ sở và suýt bị bắt trong mấy năm liền.

Sau khi vừa hết cơn cấm đạo, cha được đức giám mục bổ nhiệm làm chánh xứ Ecully. Cha không những coi sóc xứ ấy mà còn phải giải tội và thi hành các bí tích cho giáo dân các xứ lân cận, là những nơi không có linh mục trong chín mười năm liền, do đó cha phải vất vả khó nhọc biết chừng nào. Nhưng cũng vì cha quá sốt sắng trong việc ăn chay hãm mình để đền tội nên ngài chóng tàn hơi kiệt sức.

Cha bị ung thư ở chân, phải nằm liệt giường đúng hai tháng. Căn bệnh ngày càng tăng chứ không thuyên giảm. Hai ngày trước khi qua đời cha yêu cầu cha Gioan xức dầu cho mình. Có bốn năm linh mục thân thiết khi biết tin ngài hấp hối, đã đi một hai ngày đường để được gặp ngài lần sau hết.

Giáo dân xứ Ecully và hai ba xứ lân cận nghe biết nhân đức thánh thiện của ngài cũng tuôn đến thăm viếng ngài lúc hấp hối. Đến lúc cha Gioan thi hành các bí tích cho cha Balley là cha yêu dấu, là thầy dạy, một cách rất cảm động khiến mọi người có mặt đều bật khóc nức nở.

Trước khi chịu lễ như của ăn đàng, cha Balley xin đỡ ngồi dậy trên giường mà nói:
- Trong thời gian tôi coi sóc xứ này, tôi có làm gương xấu, làm mất lòng ai điều gì, tôi xin anh chị em tha thứ tất cả cho tôi và xin anh chị em cầu nguyện cho tôi.

Lúc đó, cha Gioan đại diện cho tất cả mọi người thưa lại:
- Thưa cha, cha sống với chúng con, cha chẳng làm mất lòng ai, cũng không làm gương xấu cho ai, nhưng tất cả chúng con nhiều khi đã không vâng lời cha, đã làm cha buồn lòng điều gì, chúng con xin cha vì Chúa hãy tha thứ mọi lỗi lầm cho chúng con.

Ngày hôm sau khi cha Gioan làm lễ xong, cha đến thăm viếng và an ủi cha Balley. Lúc đó, cha Balley còn tỉnh nhưng đã yếu lắm rồi. Ngài trao cho cha Gioan những vật dụng để hành xác như roi đánh tội, dây sắt, áo nhặm rồi nói:
- Cha hãy gi