Mẹ Têrêsa Calcutta

“Theo huyết thống, tôi là người Anbani. Theo quốc tịch, tôi là người Ấn Độ. Theo đức tin, tôi là một nữ tu công giáo. Theo ơn gọi, tôi thuộc về thế gian. Theo con tim, tôi hoàn toàn thuộc về Trái Tim Chúa Giêsu”

Với dáng người nhỏ bé, nhưng với một đức tin sắt đá, Mẹ Têrêxa thành Calcutta được giao phó sứ mạng công bố tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại, đặc biệt đối với những người bần cùng nhất. “Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương thế gian và Người sai chị em chúng ta ra đi để biểu lộ tình yêu và lòng thương cảm của Người đối với người nghèo”. Mẹ có một tâm hồn tràn đầy ánh sáng Chúa Kitô, một tâm hồn bùng cháy tình yêu đối với Ngài và bị thôi thúc bởi một mong ước duy nhất: “xoa dịu cơn khát của Chúa: khát tình yêu và khát các linh hồn”.

THỜI THƠ ẤU

Agnes Gonxha Bojaxhiu sinh ngày 26 tháng 08 năm 1910, và chịu phép rửa ngay hôm sau, tại Skopje, Macedonia. Gia đình cô thuộc cộng đồng người Anbani. Đây là một gia đình công giáo, mặc dù đa số người Anbani ở đấy theo Hồi Giáo. Thời bấy giờ, Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị đất nước. Cha cô, ông Nikola, là một doanh nhân. Ông làm chủ một công ty và một cửa hàng thực phẩm. Ông thường du hành đó đây, biết nhiều thứ tiếng và rất quan tâm đến chính trị. Ông là một thành viên của Hội Đồng người Anbani. Cùng với vợ mình là bà Drana, ông đã dạy cho Agnès những bài học bác ái đầu tiên.
Khi Agnes lên 9, năm 1919, cha cô qua đời một cách đột ngột. Bà Drana phải một mình buon ch?i h?u nuôi dạy ba người con là Aga (1904), Lazar (1907) và Gonxha (1910). Để sinh sống, bà lao động vất vả qua nghề thêu may. Dù vậy, bà vẫn dành thì giờ để giáo dục con cái. Gia đình cầu nguyện mỗi tối, đi nhà thờ hằng ngày, lần chuổi Mân Côi mỗi ngày trong suốt tháng Năm và chuyên cần tham dự các lễ kính Đức Mẹ. Họ cũng luôn quan tâm giúp đỡ những người nghèo và thiếu thốn đến gõ cửa nhà họ. Trong các kỳ nghỉ, gia đình có thói quen đến tĩnh tâm tại một nơi hành hương kính Đức Mẹ, tại Letnice.
Agnes rất thích đi nhà thờ, cô cũng thích đọc sách, cầu nguyện và ca hát. Mẹ cô tình nguyện chăm sóc một phụ nữ nghiện rượu ở gần đấy. Mỗi ngày hai lần, bà đến rửa ráy và cho người phụ nữ ấy ăn, đồng thời bà cũng chăm sóc một bà góa có 6 con. Những ngày bà không đi được, thì Agnes thay bà đi làm các việc bác ái đó. Khi bà góa qua đời, những người con của bà đến sống với bà Drana như con ruột của mình.

ƠN GỌI

Những năm trung học, cô Agnes dùng phần lớn thời gian để hoạt động trong hội Đạo Binh Đức Mẹ (Legio Mariae). Vì giỏi ngoại ngữ, cô giúp một linh mục gặp khó khăn trong ngôn ngữ, cô dạy giáo lý và đọc rất nhiều sách về các nhà thừa sai Slovenia và Croatia ở Ấn Độ. Khi lên 12, lần đầu tiên cô mong muốn dâng đời mình để làm việc Chúa, hiến trọn đời mình cho Chúa để Người quyết định. Nhưng cô phải làm sao để biết chắc chắn là Chúa có gọi cô hay không?
Cô cầu nguyện nhiều rồi tâm sự với các chị và mẹ mình. Cô cũng trình bày với vị linh mục giải tội: “Làm sao con biết chắc?”. Cha trả lời: “Căn cứ trên NIỀM VUI. Nếu con cảm thấy thực sự hớn hở vui mừng với ý tưởng rằng Chúa có thể gọi con phục vụ Người và tha nhân, thì đấy là bằng chứng cho thấy rằng con có ơn gọi”. Và cha nói thêm: “Niềm vui sâu xa mà con cảm nhận là la bàn để chỉ cho con biết hướng đi của đời mình.”
Năm 18 tuổi là năm trọng đại. Cô quyết định. Hai năm trước đó, cô đã đến tĩnh tâm nhiều lần tại Letnice và nhận ra rõ ràng là cô sẽ phải đi truyền giáo ở Ấn Độ. Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời năm 1928, cô đến Letnice cầu nguyện xin Đức Mẹ chúc lành trước khi ra đi. Cô chuẩn bị gia nhập dòng Đức Mẹ Lorette, một hội dòng đang hoạt động tích cực tại Ấn Độ.
Ngày 25 tháng 09, cô lên đường. Cả cộng đồng tiễn cô ra ga: nào bạn hữu, nào láng giềng già trẻ, và dĩ nhiên cả Mẹ và bà chị Aga. Mọi người đều khóc.
Cô đi qua Zagreb, Áo, Thụy Sĩ, Pháp và đến Luân Đôn, rồi từ đấy vào một tu viện gần Dublin là nhà mẹ của Hội Dòng Đức Mẹ Lorette. Tại đấy, cô học nói tiếng Anh và sống nếp sống nữ tu. Ngày mặc áo dòng, cô chọn tên là Têrêxa, để tưởng nhớ chị thánh Têrêxa Hài Đồng ở Lisieux, nơi mà cô dừng chân trên đường đến Luân Đôn. Cùng thời gian này cô làm các thủ tục giấy tờ và năm 1928 cô khởi sự cuộc hành trình đầu tiên đến với Ấn Độ: đất nước ước mơ của cô! Cuộc hành trình này thật gian nan. Có vài chị em nữ tu đi cùng tàu với cô nhưng phần đông hành khách thì theo Anh giáo. Suốt nhiều tuần lễ, họ không được dự lễ và rước lễ, kể cả ngày Giáng Sinh. Tuy nhiên, họ cũng làm một máng cỏ, lần hạt và hát thánh ca Giáng Sinh.
Đầu năm 1929 họ đến Colombo, rồi đến Madras và cuối cùng là Calcutta. Họ tiếp tục đi đến Darjeeling, dưới chân dãy Hy mã lạp sơn, nơi mà người nữ tu trẻ sẽ hoàn tất thời gian huấn luyện. Ngày 23 tháng 05 năm 1929, chị Têrêxa vào tập viện và hai năm sau chị khấn lần đầu. Ngay sau đó, chị được chuyển đến Bengali để giúp đỡ các chị trong một bệnh viện nhỏ hầu chăm sóc các bà mẹ đau yếu, đói khát và không nơi nương tựa. Chị bị đánh động trước nỗi khốn cùng vô biên tại nơi này.

NỮ TU VÀ GIÁO VIÊN

Sau đó, chị được gởi đến Calcutta để học sư phạm. Khi nào có thể, chị đều đi giúp chăm sóc bệnh nhân. Khi ra trường, chị trở thành giáo viên và mỗi ngày phải đi xuyên qua thành phố. Công việc đầu tiên của chị là lau phòng học. Chẳng bao lâu, các em bé yêu mến cô giáo vì sự nhiệt tình và lòng trìu mến của cô, nên số học sinh lên đến ba trăm em. Ở một khu khác trong thành phố, còn 100 em nữa. Chị nhìn thấy nơi các em ở và đồ các em ăn. Cảm được sự chăm sóc và tình yêu của chị, các em gọi chị là ‘ma’ (mẹ). Những ngày chúa nhật, chị đi thăm viếng gia đình các em.
Ngày 24 tháng 05 năm 1937, chị khấn trọn đời ở Darjeeling và trở thành, như lời chị nói, “hiền thê của Chúa Giêsu cho đến đời đời”. Chị được cử làm hiệu trưởng một trường phổ thông cơ sở tại trung tâm Calcutta, dành cho nữ sinh Bengali. Đôi khi chị cũng đích thân dạy sử địa. Cạnh trường là một trong những khu ổ chuột lớn nhất Calcutta. Chị Têrêxa không thể nhắm mắt làm ngơ được: Ai chăm sóc cho những người nghèo sống lang thang trên đường phố đây? Tinh thần bác ái toát ra từ những bức thư của mẹ chị nhắc lại tiếng gọi căn bản: hãy chăm sóc người nghèo.
Hội đoàn Legio Mariae cũng hoạt động trong trường này. Cùng với các nữ sinh, chị Têrêxa thường đi thăm bệnh viện, khu ổ chuột, người nghèo. Họ không chỉ cầu nguyện suông. Họ cũng nghiêm túc trao đổi về những gì mình thấy và làm. Cha Henry, một linh mục dòng Tên người Bỉ, là vị linh hướng của chị; ngài gợi ý nhiều điều trong công tác này. Ngài hướng dẫn chị Têrêxa trong nhiều năm. Qua các gợi ý của ngài, chị càng ngày càng mong muốn phục vụ người nghèo, nhưng bằng cách nào đây?

‘ƠN GỌI TRONG ƠN GỌI ’

Với tất cả những thao thức ấy, chị đi tĩnh tâm ngày 10 tháng 09 tại Darjeering. Sau này chị nói: “đấy là chuyến đi quan trọng nhất trong đời tôi’. Đấy chính là nơi mà chị thực sự nghe được tiếng Chúa: “Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy”. Sứ điệp của Người rất rõ ràng: chị phải rời tu viện để giúp đỡ những kẻ khốn khổ nhất và cùng sống với họ. “Đấy là một mệnh lệnh, một bổn phận, một xác tin tuyệt đối. Tôi biết mình phải làm gì, nhưng không biết phải làm thế nào”. Ngày 10 tháng 09 là một ngày quan trọng đến nỗi Hội Dòng gọi ngày này là ‘ngày linh hứng’ (inspiration day).
Chi Têrêxa cầu nguyện, trình bày cho vài chị khác, tham khảo ý kiến mẹ bề trên, và mẹ bảo chị đến gặp đức tổng giám mục Calcutta, Đức Cha Perrier. Chị giải thích cho ngài về ơn gọi của mình, nhưng đức cha không cho phép. Ngài đã trao đổi với các cha dòng Tên Henry và Celeste Van Exem, là những vị biết rõ chị Têrêxa. Các ngài xem xét mọi mặt vấn đề: Ấn Độ sắp được độc lập và chị Têrêxa lại là một người Âu! E rằng chị sẽ gặp những nguy hiểm về chính trị và nhiều vấn đề khác xuất phát từ việc phân biệt sắc tộc. Liệu Rôma có phê chuẩn quyết định này chăng? Đức cha khuyên chị cầu nguyện một năm nữa trước khi thực hiện quyết định này, nếu không thì nên gia nhập dòng các Nữ Tử thánh Anna, những nữ tu mặc sari xanh đang hoạt động cho người nghèo. Chị Têrêxa nghĩ rằng đấy không phải là con đường thích hợp cho mình. Chị muốn sống cùng với người nghèo. Một năm sau, khi chị Têrêxa trình lên ý định mình, đức tổng giám mục muốn cho phép, nhưng ngài bảo tốt hơn là chị hãy xin phép Rôma và Mẹ bề trên tổng quyền của chị ở Dublin. Chị lại phải chờ đợi một thời gian khá lâu để nhận được quyết định từ trung ương.

QUYẾT ĐỊNH

Tháng 08 năm 1948, chị Têrêxa được phép rời cộng đoàn Lorette với điều kiện là tiếp tục tuân giữ các lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Chị chia tay với chị em mình năm 38 tuổi, rời tu phục dòng Lorette để mặc lấy chiếc sari rẻ tiền màu trắng viền xanh. Trước hết, chị đến Patna để theo học một khóa huấn luyện y tá cùng với các nữ tu tại đấy. Chị thấy rõ ràng là chị chỉ có thể giúp đỡ người nghèo trong các căn nhà bẩn thỉu bệnh hoạn của họ nếu chị biết cách phòng bệnh và chữa bệnh. Kiến thức y khoa là điều kiện không thể thiếu được hầu chu toàn ơn gọi mới của mình.
Vị bề trên ở Patna, một bác sĩ, đã cho chị một lời khuyên khôn ngoan khi chị tỏ ý muốn ra sống giữa những người nghèo và chăm sóc họ. Chị bảo rằng chị muốn sống chỉ bằng cơm với muối, giống như người nghèo, và vị bề trên đáp lại rằng đấy là cách hay nhất để cản trở chị khỏi phải đi theo ơn gọi của chị: nếp sống mới đòi hỏi ở chị một sức khoẻ thật vững và thật tốt.
Sau khi trở về Calcutta, chị Têrêxa đến với các khu ổ chuột và đường phố, thăm viếng và giúp đỡ người nghèo. Toàn bộ tài sản của chị vẻn vẹn là một cục xà phòng và năm rupi (một đôla = 45 rupi; và 5 rupi = dưới 2000 VNĐ). Chị giúp tắm các em bé và rửa các vết thương. Người nghèo rất ngạc nhiên: Cái bà người Âu mặc chiếc sari nghèo nàn này là ai vậy? Mà bà nói thông thạo tiếng Bengali! Bà lại đến giúp họ rửa ráy, lau chùi và chăm sóc họ nữa chứ! Thế rồi chị bắt đầu dạy các em bé nghèo học chữ, học cách rửa ráy và giữ vệ sinh. Sau đấy chị mướn được một phòng nhỏ để làm lớp học.
Phần chị, chị vẫn tạm trú tại nhà các Chị Em Người Nghèo. Chúa là nơi nương tựa của chị để có được những sự trợ giúp vật chất. Và Người luôn có mặt: lúc nào chị cũng tìm ra thuốc men, quần áo, thức ăn và chỗ ở để đón người nghèo và chăm sóc họ. Vào giữa trưa, các em bé được uống một ly sữa và nhận một miếng xà phòng, nhưng đồng thời các em cũng được nghe nói về Chúa, Đấng Tình Yêu, và - ngược với các thực trạng rành rành trước mắt các em - Người yêu thương các em, thực sự yêu thương các em.

MỘT THỜI ĐIỂM CẢM ĐỘNG

Một hôm, một thiếu nữ Bengali, xuất thân từ một gia đình khá giả và là cựu học sinh của Mẹ Têrêxa, muốn đến ở với Mẹ mà giúp một tay. Đây là một thời điểm cảm động. Nhưng Mẹ Têrêxa rất thực tế: Mẹ nói về sự nghèo khó toàn diện, về những khía cạnh khó chịu của công việc Mẹ làm. Mẹ đề nghị thiếu nữ chờ đợi một thời gian nữa.
Ngày 19 tháng 03 năm 1949, thiếu nữ ấy trở lại trong một chiếc áo nghèo nàn và không mang trên người một món nữ trang nào. Cô đã quyết định. Cô là người đầu tiên gia nhập cộng đoàn của Mẹ Têrêxa và lấy tên khai sinh của Mẹ là Agnes. Những thiếu nữ khác nối tiếp cô: vào tháng 05 cộng đoàn có ba người, tháng 11 là năm người, năm sau đó là bảy người. Mẹ Têrêxa thiết tha cầu nguyện để có được nhiều ơn gọi hơn nữa cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Có quá nhiều việc phải làm. Các chị em thức dậy thật sớm, cầu nguyện lâu giờ, dự thánh lễ để kín múc sức mạnh cho đời sống thiêng liêng hầu thực thi những công việc phục vụ người nghèo. Tạ ơn Chúa, có một ông tên là Gomes đã dâng tặng tầng cao nhất của căn nhà mình cho cộng đoàn Mẹ Têrêxa. Đây cũng là năm mà Mẹ Têrêxa lấy quốc tịch Ấn Độ.
Mẹ Têrêxa nhìn cộng đoàn lớn lên và biết rằng Mẹ có thể nghiêm túc nghĩ đến việc sáng lập một hội dòng. Muốn xây dựng hiến pháp đầu tiên, Mẹ tham khảo ý kiến của hai người đã từng giúp Mẹ trước đây: các cha dòng Tên Julien Henry và Celest Van Exem. Vị linh mục đọc lại lần cuối là cha De Gheldere. Giờ đây “hiến pháp của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái’ có thể trình lên đức tổng giám mục, và ngài gởi về Rôma để xin phê chuẩn.
Đầu mùa thu, sắc lệnh phê chuẩn của Đức Thánh Cha đến, và ngày 7 tháng 10 năm 1950, lễ Mân Côi, nghi thức khánh thành diễn ra trong nhà nguyện của chị em. Đức tổng giám mục cử hành thánh lễ và cha Van Exem đọc sắc lệnh thành lập. Vào lúc ấy, có 12 chị em. Không đầy 5 năm sau, cộng đoàn được nâng lên thành hội dòng Tòa Thánh, có nghĩa là trực thuộc Đức Thánh Cha.

NHỮNG LÃNH VỰC KHÁC

Muốn đáp ứng trọn vẹn hơn các nhu cầu vật chất và thiêng liêng của người nghèo, Mẹ Têrêxa sáng lập, năm 1963: tu hội Anh Em Thừa Sai Bác Ái; năm 1976: Nhánh nữ tu chiêm niệm; năm 1979, các Nam tu sĩ chiêm niệm và năm 1984, hội linh mục Thừa Sai Bác Ái. Tuy nhiên, thao thức của Mẹ không dừng lại nơi những người có ơn gọi tu trì mà thôi. Mẹ thiết lập hội Những Cộng Tác Viên với Mẹ Têrêxa và những Cộng Tác Viên Bệnh Tật Và Đau Khổ, gồm những người thuộc nhiều quốc tịch khác nhau mà Mẹ chia sẻ tinh thần cầu nguyện, đơn sơ, hy sinh và công tác tông đồ qua những việc làm hèn mọn vì tình yêu. Tinh thần này cũng thôi thúc Mẹ thiết lập hội Giáo Dân Thừa Sai Bác Ái. Để đáp lại yêu cầu của nhiều linh mục, năm 1981, Mẹ Têrêxa khởi xướng phong trào Corpus Christi dành những linh mục nào muốn chia sẻ linh đạo và đặc sủng của Mẹ.
Trong những năm lớn mạnh đó, thế giới bắt đầu chú ý đến Mẹ và các công trình mà Mẹ đã khởi xướng. Mẹ nhận được nhiều giải thưởng: giải Padmashri của Ấn Độ, năm 1962; giải Hoà Bình của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, năm 1971; giải Nêru vì có công thăng tiến nền hòa bình và sự thông cảm trên thế giới, năm 1972; và Giải Nobel Hòa Bình, năm 1979; trong khi đó, các phương tiện truyền thông càng ngày càng ca tụng Mẹ hết lời qua các công việc Mẹ làm. Mẹ đón nhận tất cả ‘vì vinh danh Thiên Chúa và nhân danh người nghèo’

CHỨNG TỪ CỦA MỘT CUỘC ĐỜI.

Toàn bộ cuộc đời và công trình của Mẹ Têrêxa là một chứng từ cho niềm vui trong yêu thương, cho sự cao cả và phẩm giá của mỗi một con người, cho giá trị của từng việc nhỏ nhất được thực thi với đức tin và tình yêu, và trên hết, cho sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Nhưng có một khía cạnh anh dũng khác của vĩ nhận này mà ta chỉ biết được sau khi Mẹ qua đời. Đây là một điều Mẹ dấu kín đối với mọi người, kể cả những thân hữu gần gũi nhất với Mẹ: trong cuộc sống nội tâm, Mẹ có một cảm nghiệm sâu lắng, đau đớn và thường xuyên rằng Mẹ ở xa cách Chúa, thậm chí bị Người ruồng bỏ, và vì thế càng ngày Mẹ càng khao khát được Chúa yêu thương nhiều hơn. Mẹ gọi cái cảm nghiệm nội tâm ấy là ‘bóng tối’. Cái ‘đêm đem cay đắng’ này khởi sự từ ngày Mẹ bắt đầu công việc phục vụ người nghèo và tiếp tục mãi cho đến cuối đời, khiến Mẹ ngày càng kết hiệp mật thiết hơn với Chúa. Qua cái tối tăm đó, Mẹ tham dự một cách huyền nhiệm vào cơn khát cùng cực và đau đớn của Chúa Giêsu và chia sẻ tự thâm sâu sự khốn cùng của người nghèo.
Trong những năm cuối đời, mặc cho sức khoẻ càng ngày càng giảm sút, Mẹ vẫn tiếp tục điều hành Hội Dòng và đáp ứng các nhu cầu của người nghèo và của Giáo Hội. Năm 1997, số nữ tu của Mẹ Têrêxa là 4000 chị hoạt động tại 610 nhà trong 123 quốc gia trên thế giới. Tháng 03 năm 1997, Mẹ chúc phúc cho vị bề trên tổng quyền mới của Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái (chị Nirmala Joshi), rồi thực hiện một chuyến du hành ở nước ngoài. Sau khi yết kiến Đức Thánh Cha lần chót, Mẹ về lại Calcutta, dành những ngày cuối đời để tiếp khách và dạy dỗ các nữ tu con cái mình. Ngày 05 tháng 09 là ngày cuối cùng trong cuộc đời trần thế của Mẹ. Mẹ được tiễn đưa về vĩnh cửu theo nghi lễ quốc táng của Ấn Độ và thi hài Mẹ được chôn cất tại nhà mẹ của hội dòng Thừa Sai Bác Ái. Mộ của Mẹ trở thành nơi hành hương cho mọi người, giàu cũng như nghèo.
Không đầy hai năm sau ngày qua đời, do sự thánh thiện mà mọi người đã đồng thanh ca ngợi và những báo cáo về các ơn thiêng nhận được qua Mẹ, nên Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã cho phép tiến hành xem xét hồ sơ phong thánh cho Mẹ. Ngày 20 tháng 12 năm 2002, ngài phê chuẩn sắc lệnh công nhận nhân đức anh hùng và các phép lạ của Mẹ.
Ngày 19 tháng 10 năm 2003, Mẹ được nâng lên hàng chân phước. Mẹ là người được phong chân phước nhanh nhất trong lịch sử giáo hội từ trước đến nay: chỉ 6 năm sau ngày qua đời. Trước Mẹ, thánh Gioan Bosco và thánh Maximilian Kolbe được phong chân phước 30 năm sau ngày qua đời và là những người được phong chân phước nhanh nhất.

CHÂN PHƯỚC TÊRÊXA THÀNH CALCUTTA - một người của toàn thể nhân loại, mang dòng màu Anbani, có quốc tịch Ấn độ và là công dân danh dự của Hoa kỳ, nhung lại xó mình đến nỗi ít ai còn nhớ đến cái tên khai sinh Agnes Gonxha Bojaxhiu - mãi mãi là hình ảnh của một Kitô hữu có một đức tin không hề lay chuyển, một đức cậy bất chấp phong ba và cho một đức ái vượt mọi biên thùy. Lời đáp trả trước tiếng gọi của Chúa Giêsu “Hãy đến làm ánh sáng cho Thầy’ đã biến người thành một nhà Thừa Sai Bác Ái, một ‘người mẹ của kẻ nghèo’, một biểu tượng cho lòng thương cảm của Thiên Chúa đối với con người và một bằng chứng sống động cho thấy rằng Chúa Giêsu từng ngày khắc khoải chờ đợi tình yêu của mỗi một linh hồn.

Tổng hợp theo tài liệu của Mạng Lưới Vatican và Hội Dòng Thừa Sai Bác Ái.

VÀI TƯ TƯỞNG CỦA MẸ TÊRÊXA.

NGƯỜI NGHÈO THẬT CAO CẢ
Người nghèo không cần chúng ta thông cảm và thương hại. Người nghèo cần chúng ta đồng cảm và yêu thương. Họ cho chúng ta nhiều hơn chúng ta cho họ.
Trong thời gian khủng khiếp mà hằng triệu người đến tị nạn tại Ấn Độ, chúng tôi kêu gọi trợ giúp và nhiều người tình nguyện đến sống vài tháng với chúng tôi, để yêu thương và phục vụ, bằng tấm lòng trìu mến và bằng sự chăm sóc tận tình. Khi ra về, họ bảo rằng họ đã nhận nhiều hơn là cho.
Tại Calcutta, cách đây một thời gian, mỗi đêm chúng tôi ra đường đem bốn năm người hấp hối về Nhà Vĩnh Biệt của chúng tôi. Có một bà ở trong tình trạng thật bi đát nên tôi muốn tự tay mình chăm sóc. Tôi gởi hết tình yêu thương vào công việc này. Khi tôi đặt bà lên giường, bà nắm lấy tay tôi và môi bà nở một nụ cười tuyệt diệu. Bà chỉ nói có một tiếng: “Cám ơn” rồi bà chết. Bà đã cho tôi nhiều hơn tôi cho bà, rất nhiều. Bà đã tặng tôi tấm lòng biết ơn của mình và tôi thầm nghĩ: Ở hoàn cảnh bà tôi sẽ làm gì nhỉ? Rồi tôi tự trả lời: hẳn là tôi sẽ cố gắng lôi kép sự chú ý về mình; hẳn là tôi sẽ bảo: tôi đói hay tôi lạnh hay tôi sắp chết. Nhưng phần bà, bà thật cao cả, bà thật tuyệt vời qua hành động trao tặng của mình. Người nghèo thật cao cả.

TỰ NHIÊN
 

Nếu bạn cầu nguyện bằng lời, thì hãy để cho lời ấy được chìm ngập trong tình yêu xuất phát tự đáy lòng mình. Hãy chắp tay, nhắm mắt và hướng lòng lên với Chúa. Hãy để cho kinh nguyện của bạn trở thành một của lễ tinh tuyền dâng lên Thiên Chúa. Đừng cầu nguyện lớn tiếng hay quá im lặng. Hãy cầu nguyện đơn sơ. Hãy để cho lòng bạn lên tiếng. Hãy cầu nguyện với Chúa bằng trọn tâm hồn mình.
Lời nói sẽ trỗi dậy từ đáy lòng bạn và bạn sẽ cảm nhận được niềm vui khi cầu nguyện. Thỉnh thoảng dừng lại ở một lời và suy đi nghĩ lại, để cho lời ấy chìm sâu vào lòng bạn.
Hãy giữ lời ấy suốt ngày: lời ấy giữ bạn trong bình an.

TÌNH YÊU
Đừng nghĩ rằng một tình yêu chân chính phải là một điều gì phi thường. Điều cần thiết là yêu thương liên tục. Làm thế nào mà ngọn đèn cháy mãi nếu nó không được nuôi dưỡng bằng một giọt dầu? Khi hết dầu thì không còn ánh sáng và vị hôn phu sẽ nói: Tôi không biết các người.
Các bạn thân mến, những giọt dầu của ngọn đèn các bạn là gì? Đấy là những điều nhỏ nhặt trong đời thường: niềm vui, lòng quảng đại, những việc lành nho nhỏ, đức khiêm nhường và sự nhẫn nại. Một suy nghĩ hướng đến tha nhân. Cách thức mà chúng ta thinh lặng, lắng nghe, tha thứ, nói năng và hành động. Đấy là những giọt dầu chân chính giúp cho ngọn đèn chúng ta cháy mãi suốt cuộc đời mình. Đừng tìm kiếm Chúa Giêsu ở nơi xa xôi, Người không có ở đấy đâu. Người đang ở trong các bạn, hãy chăm sóc ngọn đèn của mình rồi các bạn sẽ nhìn thấy Người.

SUY NIỆM TẠI BỆNH VIỆN Ngày 19 tháng 06 năm 1983

“Các con bảo Thầy là ai?” (Matthêu 16,15)
Thầy là Thiên Chúa
Thầy là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa
Thầy được sinh ra, mà không phải tạo thành.
Thầy đồng bản tính với Thiên Chúa Cha
Thầy là Con Thiên Chúa Hằng Sống
Thầy là Ngôi Hai Thiên Chúa Ba Ngôi
Thầy là Một cùng Thiên Chúa Cha
Thầy ở trong Cha Thầy từ nguyên thủy: mọi sự đều được Chúa Cha dựng nên qua Thầy.
Thầy là Người Con Chí Ái đẹp lòng Chúa Cha.
Thầy là con của Đức Maria, được Chúa Thánh Thần tượng thai trong lòng Đức Mẹ.
Thầy sinh ra ở Bêlem,
Thầy được Đức Maria vấn tã và đặt vào máng cỏ.
Thầy được sưởi ấm bằng hơi thở của con lừa từng chỡ người Mẹ đang cưu mang Thầy. Thầy là con ông Giuse, mà dân thành Nazareth biết đến với tư cách là người thợ mộc.
Thầy là một người tầm thường, học vấn không cao, như các nhà trí thức Israen đánh giá.

“Chúa Giêsu là ai, đối với tôi ?”

Chúa Giêsu là Ngôi Lời nhập thể.
Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống.
Chúa Giêsu là Hy Lễ dâng lên trong thánh lễ vì tội lỗi thế gian và tội lỗi tôi.
Chúa Giêsu là Ngôi Lời - cần diễn đạt
Chúa Giêsu là Sự Thật - cần loan truyền
Chúa Giêsu là Con Đường - cần đi theo
Chúa Giêsu là Ánh Sáng - cần thắp lên
Chúa Giêsu là Sự Sống - cần phải sống
Chúa Giêsu là Tình Yêu - cần phải yêu
Chúa Giêsu là Niềm Vui - cần chia sẻ
Chúa Giêsu là Của Lễ - cần tiến dâng
Chúa Giêsu là Bình An - cần trao ban
Chúa Giêsu là Bánh Hằng Sống - cần rước lấy
Chúa Giêsu là Người Đang Đói - cần cho ăn
Chúa Giêsu là Người Đang Khát - cần cho uống
Chúa Giêsu là Người Mình Trần - cần cho mặc
Chúa Giêsu là Người Không Nhà - cần đón tiếp
Chúa Giêsu là Người Bệnh Hoạn - cần chữa lành
Chúa Giêsu là Người Cô Đơn - cần yêu thương
Chúa Giêsu là Người Phung Hủi - cần chăm sóc
Chúa Giêsu là Người Ăn Xin - cần nụ cười
Chúa Giêsu là Người Nghiện Rượu - cần lắng nghe
Chúa Giêsu là Người Tâm Thần - cần bảo vệ
Chúa Giêsu là Người Bé Mọn - cần che chỡ
Chúa Giêsu là Người Đui Mù - cần dẫn đi
Chúa Giêsu là Người Câm Miệng - cần nói thay
Chúa Giêsu là Người Tàn Tật - cần đồng hành
Chúa Giêsu là Người Ma Túy - cần thông cảm
Chúa Giêsu là Người Mãi Dâm - cần viếng thăm
Chúa Giêsu là Người Già Nua - cần phục vụ

Đối với tôi...

Chúa Giêsu là Thiên Chúa của tôi
Chúa Giêsu là Phu Quân của tôi
Chúa Giêsu là Sự Sống của tôi
Chúa Giêsu là Mối Tình duy nhất của tôi
Chúa Giêsu là Tất Cả của tôi.
Chúa Giêsu là Mọi Sự của tôi.
Chúa Giêsu, tôi yêu mến Người hết lòng, hết tâm trí tôi.
Tôi hiến dâng Người mọi sự, kể cả tội lỗi mình và Người đã kết hôn tôi với Người trong trìu mến và yêu thương.
Giờ đây và trọn đời, tôi là hiền thê của ĐẤNG LANG QUÂN Chịu Đóng Đinh.
Amen

Mẹ Têsêxa - Trần Duy Nhiên dịch từ ‘Thoughts’
Website:
http://www.tisv.be/mt/en/indmt.htm

Trần Duy Nhiên
Vietcatholic.net


Mẹ Têrêsa sáng lập những chi nhánh dòng nào?
21/10/2003

ROME - Nhiều người trên thế giới hầu như chỉ biết Mẹ Têrêsa đã lập dòng Thừa Sai Bác Ái, mà không biết mẹ Têrêsa đã cùng với một số người khác lập nhiều chi nhánh dòng, nhưng cùng chung lý tưởng là thực thi công việc bác ái. Sau đây là các dòng được xếp thứ tự theo ngày tháng thành lập.

Thứ nhất: Dòng Truyền Giáo Bác Ái Nữ được thành lập năm 1948. Dòng này do Mẹ thành lập và nhân sự hiện nay của dòng trên toàn thế giới là 4500 nữ tu.

Thứ hai: Dòng Truyền Giáo Bác Ái Nam do Mẹ Têrêsa và thầy Andrew sáng lập tháng 3 năm 1963. Hiện nay nhân số của dòng khoảng 400. Nhà dòng chuyên phục vụ nam giới như săn sóc các người bệnh cùi, bệnh liệt kháng, cai nghiện thuốc và rượu, săn sóc các người trước kia bị tù đầy.

Thứ ba: Dòng Truyền Giáo Bác Ái Chiêm Niệm Nữ do Mẹ Têrêsa và chị dòng Nirmala Joshi sáng lập vào ngày 25 tháng 6 năm 1976 tại khu Bronx ở thành phố New York, Hoa Kỳ. Nhân số của chi nhánh này là 100. Lý tưởng của dòng là dùng hầu hết thì giờ vào việc tôn sùng thánh thể, đọc kinh cầu nguyện cho các hoạt động Truyền Giáo Bác Ái. Các chị dòng mỗi ngày cũng dành 5 giờ đồng hồ làm công tác bác ái.

Thứ tư: Dòng Truyền Giáo Bác Ái Chiêm Niệm Nam do Mẹ Têrêsa và cha Sebastian sáng lập vào ngày 19 tháng 3 năm 1979. Nhân số của dòng hiện nay là 30 người chuyên lo cầu nguyện và phục vụ những người nghèo khó trong tù, trong bệnh viện, kẻ vô gia cư, và những người du mục.

Thứ năm: Dòng Truyền Giáo Bác Ái gồm các linh mục do Mẹ Têrêsa và cha Joseph Langford thành lập ngày 26 tháng 6 năm 1984. Nhân số của dòng hiện nay là 25 linh mục. Các linh mục dòng này thực hiện công tác mục vụ bác ái đối với những người vô gia cư, sống bên lề xã hội.

Ngoài ra còn hàng ngàn người tình nguyện thuộc đủ mọi tôn giáo, quốc tịch, giai cấp xã hội, nhưng cùng chia sẻ một lý tưởng của Mẹ Têrêsa. Họ đến các cơ sở nhà dòng Truyền Giáo Bác Ái ở khắp nơi trên thế giới để phục vụ người nghèo và bệnh tật.

Nguyễn Long Thao
Vietcatholic.net

 


Mẹ Têrêsa, vị tông đồ hoan lạc
16/10/2003

MẸ TÊRÊSA, VỊ TÔNG ĐỒ HOAN LẠC

Ngay lúc sinh thời, Mẹ Têrêsa đã được nhiều người coi như một vị thánh sống vì đã tận tuỵ hiến dâng cuộc đời cho những kẻ bần cùng và những người bị bỏ rơi trên khắp thế giới. Nhưng hôm 19 tháng 10 này, ngày Khánh nhật Truyền giáo, khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong chân phước cho Mẹ thì thực thụ Mẹ đã một bước gần hơn tiến tới bậc hiển thánh.

Theo linh mục Bian Kolodiejchuk, là cáo thỉnh viên vụ tuyên thánh, Mẹ Têrêsa không chỉ là biểu tượng của một tấm lòng từ bi nhân hậu và một vị nữ tu hoạt động xã hội, mà còn hơn thế nữa. Sau đây là trình thuật của cha Brian - các nữ tu dòng Thừa sai Bác Ai thường gọi tên cha vắn tắt như thế - ngài sinh tại Winnipeg (tỉnh bang Manitoba, Canada) năm 1956 và gặp Mẹ Têrêsa năm 1977.

Chiều sâu của lòng phục vụ đầy yêu thương của Mẹ đã được khám phá trong suốt tiến trình tuyên thánh khởi đầu từ năm 1999, chỉ hai năm sau ngày Mẹ qua đời ở tuổi 87. Suốt cuộc đời, Mẹ Têrêsa đã rất kín đáo không đề cập tới những tranh đấu nội tâm cũng như nhiệt tâm thúc đẩy thành lập Tu hội Thừa Sai Bác Ái.

Trưởng thành về nhân đức

Cha Brian nói: Trong lúc điều tra về cuộc đời Mẹ Têrêsa tôi đã khám phá ra ngay lúc còn là nữ tu dòng Loreto dạy học tại Calcutta Mẹ đã trưỡng thành trong cuộc sống tâm linh. Năm 1948, lúc 40 tuổi Mẹ rời bỏ dòng tu Loreto sau khi tu tập đã 20 năm trời và cho rằng lúc ra đi Mẹ thấy khó khăn còn hơn cả lúc rời gia đình nữa. Ngay từ năm 1942 Mẹ Têrêsa đã long trọng nhưng âm thầm khấn hứa là sẽ không từ chối Chúa bất cứ điều gì. Đó là một bước quan trọng trong sự phát triển đời sống đạo đức. Coi mình như là người hiền thê của Chúa Giêsu, Mẹ Têrêsa đã “bừng cháy một niềm yêu mến Người như chưa từng yêu Người như thế”, Mẹ đã thuật lại câu đó. Và Mẹ muốn “làm điều gì thật tốt đẹp cho Chúa”.

Khoảng năm 1946-1947 Mẹ Têrêsa đã đạt tới giai đoạn quan trọng trong tiến trình tăng tiến về nhân đức. Mẹ đã có những đàm thoại nội tâm với Chúa Giêsu và Chúa đã yêu cầu Mẹ thiết lập một nhóm người mới để phục vụ những người bần cùng nhất, theo lời Mẹ, là “để thỏa mãn lòng Chúa khát khao tình yêu và các linh hồn”.

Mặc dầu Mẹ cảm thấy không xứng đáng với trách nhiệm lập tu hội, Mẹ nghe tiếng Chúa thách thức: “Con sợ là con sẽ mất ơn gọi, sẽ trở thành người thế tục, sẽ bị đòi hỏi phải kiên trì nhẫn nại. Này con, ơn gọi của con là yêu mến, là chịu khổ đau và cứu rỗi các linh hồn, và theo đường bước đó con sẽ thỏa mãn nỗi khát khao của trái tim Cha đối với con“. Đã nhiều lần Mẹ nghe Chúa Giêsu hỏi Mẹ có từ chối lời Người yêu cầu không. Và Mẹ đã không từ chối Người.

Gương mẫu cuộc sống thánh thiện

Bằng một tấm lòng nao nức, Mẹ bắt đầu công tác mới phục vụ những kẻ cùng khổ nhất ở An độ. Mẹ tìm thấy tấm gương khuôn mẫu nơi chị Frances Xivier Cabrini (1850-1917) một nữ tu người Ý đã phục vụ tại Mỹ. Mẹ Têrêsa viết: “Tôi đọc sách thuật về cuộc đời của thánh Cabrini, thấy rằng người đã phục vụ hết mình cho người Mỹ vì người đã hoà mình làm một người Mỹ như họ. Tại sao tôi lại không làm được ở An như thánh nhân đã làm ở Mỹ?”

Giai đoạn cuối cùng trong sự tăng tiến về nhân đức của Mẹ đã tới khi Mẹ bắt tay vào công tác mới. Mẹ khổ sở vì điều Mẹ gọi là “Bóng tối”: Mẹ mong mỏi được Chúa, nhưng cảm thấy hụt mất Người.

Mẹ thú nhận: “Tôi càng mong mỏi Chúa tôi càng cảm thấy Người ít cần tôi”. Nhưng Mẹ vẫn kiên trì trong lời đã khấn hứa với Người và trung thành với kỷ luật tự đặt ra cho mình, chẳng hạn ngày nào cũng thức dậy vào 4g40 sáng để có mặt đầu tiên tại nhà nguyện. “Bóng tối” đã trở thành người bạn đồng hành với Mẹ. Mẹ hàng phục Chúa Giêsu bằng một đức tin thuần khiết nhưng mù quáng, tự coi mình như “cây viết chì trong tay Người”

Mẹ là chứng nhân mạnh mẽ cho điều mà nhiều người gọi là “đêm đen bao phủ tâm hồn”. Mẹ đã có lần viết: “Tôi tự hỏi khi mà trong nội tâm tôi chẳng có gì hết thì Chúa lấy gì mà nhận đây?” Trong một bức thư viết cho Tổng Giám m ục Calcutta là Ferdinand Perier, Mẹ viết: “Linh hồn con có thật nhiều mâu thuẫn: con mong muốn Chúa thật sâu xa đến nỗi đau khổ triền miên, nhưng lại thấy Chúa chẳng muốn gì con, thấy bị ruồng bỏ, trống vắng, không niềm tin, không tình yêu, không nhiệt tình. Các linh hồn không còn là điều làm con hấp dẫn. Thiên đường không còn ý nghĩa, con chỉ thấy như là một nơi trống vắng. Vậy mà con lại bị hành hạ vì lòng mong muốn yêu mến Chúa. Xin cầu nguyện để con vẫn mỉm cười với Người bất chấp những chuyện đó.”

Mẹ coi điều khổ sở nhất là nỗi khổ của những người không được yêu mến, không được chăm sóc, không được ai cần, những người nghèo nàn tâm linh mà chính Mẹ đã trải qua trong mối liên lạc với Chúa Giêsu.

Rạng rỡ niềm vui

Mẹ đã dự phần vào cuộc khổ nạn của Chúa, vào cảm giác bị bỏ rơi nơi vườn Cây dầu và trên thập giá. Chính sự chia sẻ khổ đau đó với Chúa đã kéo người ta đến với Mẹ. Và nỗi khổ đau tiếp tục theo Mẹ đến cuối cuộc đời.

Tuy nhiên thay vì bám chặt lấy nỗi cô đơn của mình, Mẹ đã trở thành vị tông đồ của niềm vui. Bất chấp nỗi đau khổ của chính mình, Mẹ đã lúc nào cũng làm rạng rỡ niềm vui cho những người chung quanh, đó là minh chứng hùng hồn đức tin sâu xa của Mẹ.

Cha Brian đã thấy có mối liên hệ giữa sự tăng tiến nhân đức của Mẹ với công việc xã hội và cách thức Mẹ thực hiện: Nhiều người đã hỏi tại sao Mẹ không lập một nhà thương to lớn và tân tiến tại Calcutta mà lại làm Nhà Cho Người Hấp Hối. Nhưng Mẹ đã muốn mọi công tác phải đuợc thực hiện trên căn bản cá nhân, cho từng người, để thể hiện tình Chúa yêu thương, từ bi và hiện diện, như lời chứng của một bệnh nhân: “Tôi đã sống như một con vật nhưng với Mẹ Têrêsa tôi đang chết như một thiên thần.”

Cần phải có một phép lạ trước mới được tuyên thánh. Mẹ Têrêsa đã làm đuợc phép lạ nào?

Đó là vụ chữa lành năm 1998 cho một phụ nữ An tên Monika Besra, bị sưng một bướu lớn nơi bụng. Sự chữa lành mau chóng đã hội đủ các điều kiện đòi hỏi của một phép lạ là phải tức thời, hoàn toàn, vĩnh viễn và không giải thích được bằng khoa học. Monika khoảng chừng hơn 30 tuổi và có 5 đứa con. Bà sẽ tham dự lễ phong chân phước Mẹ Têrêsa.

Christopher Hitchins đã viết một cuốn sách chỉ trích Mẹ Têrêsa vì đã liên lạc với các nhà lãnh đạo thối nát như Fidel Castro và Ferdinand Marcos vị tổng thống Phi luật tân đã bị dân chúng bắt lưu vong, và vì Mẹ được chữa trị bằng các phương tiện tốn kém mà những người Mẹ phục vụ không được hưởng. Cha Brian trả lời rằng: Mẹ đã phải vâng lời các giám mục vì các ngài yêu cầu cho Mẹ được chữa trị tại các nhà thương tốt như ở Tijuana. Phải nhiều cố gắng cam go mới giữ được Mẹ ở trên giường bệnh viện vì Mẹ vẫn mong muốn đuợc chết trên chính chiếc giường của mình chung quanh là các chị em của tu hội. Và Mẹ đã qua đời như vậy.

Vâng phục ý Chúa

Giáo Hội Chúa sẽ phong phú hơn khi Mẹ Têrêsa đuợc tôn phong hiển thánh. Cha Brian cho biết làm nhiệm vụ cáo thỉnh viên là một kinh nghiệm tốt đẹp cho ngài.

“Ngoài việc khám phá ra khía cạnh huyền nhiệm nơi Mẹ Têrêsa, tôi còn cảm nhận sâu xa đuợc sự kiện “các thánh cùng thông công” nữa. Lúc này tôi cám ơn nhiều hơn tình thương đích thực và sâu xa của các vị thánh trên thiên đường đối với chúng ta và thấy các ngài có thể trở thành bạn đồng hành và bằng hữu của chúng ta. Mẹ Têrêsa chẳng hạn, khi còn sống ta khó mà tiếp xúc được với người bằng điện thoại, và ngay cả khi được người trả lời thì câu chuyện cũng vắn tắt lắm vì người không ưa nói chuyện lâu bằng điện thoại. Thế nhưng bây giờ thì tôi có cảm giác rằng người sẵn sàng ở đó 24 giờ một ngày và 7 ngày một tuần.

Và mặc dầu Mẹ Têrêsa đang trên đường tiến trình trở thành một vị thánh, cha Brian nói Mẹ cũng đã có những yếu đuối của con người. Mẹ cũng đã có lúc tức bực, chẳng hạn khi có lầm lẫn trong việc sắp xếp buổi nói chuyện của Mẹ tại một giáo xứ ở Roma khiến giáo dân phải chờ đợi, Mẹ đã rầy la chị nữ tu có trách nhiệm nhưng sau đó, theo thói quen của Mẹ, Mẹ đã xin lỗi bằng một cử chỉ thân thiện.

Một chuyện nữa là Mẹ rất thích carem. Tại nhà dòng chính ở Calcutta, vì có đông các nữ tu nên theo lệ là mỗi năm chỉ có carem hai hoặc ba lần. Nhưng nếu có ai đưa carem cho Mẹ thì Mẹ nhận liền. Cha Brian nói khi song thân cha tới thăm Mẹ thường có đem theo một số bánh ngọt. Mẹ Têrêsa tiếp nhận bánh ngọt đó với tâm tình cũng như khi nhận một món ăn cháy khét, như cả hai đều do Chúa ban. Đó là cách thức Mẹ vâng theo ý Chúa.

(viết thaeo Desmond O’Grady)
Phạm Hoàng Nghị
Vietcatholic.net


Lời trối của Mẹ Têrêsa Calcutta, vị thừa sai táo bạo của Phúc Âm
19/10/2004


Hôm nay ngày 19-10, nhân ngày kỷ niệm phong chân phước cho Mẹ Têrêsa thành Calcutta mà đời sống của Mẹ là một “lời tuyên dương hùng hồn Phúc Âm Chúa” như chính Đức Gioan Phaolô II đã nói trong dịpo phong chân phước, chúng ta hãy đọc lại lá thư của Mẹ Têrêsa viết cho các nữ tu Thừa Sai Bác Ái vào ngày 5-9-1997, chỉ vài giờ trước khi Mẹ qua đời. Đây cũng là bản văn được đọc trong ngày lễ kính chân phước Têrêsa thành Calcutta. Lá thư như sau:

Các chị em thân mến,

Đây là điều mang lại cho chị em tình yêu, lời cầu nguyện và phước lành của Mẹ Thiên Chúa là mỗi người trong chị em phải là tất cả cho Chúa Giêsu qua Mẹ Maria. Tôi biết rằng Mẹ thường nói “là tất cả cho Chúa Giêsu qua Mẹ Maria”, thế nhưng cũng bởi vì đó là tất cả những gì mà Mẹ muốn cho chị em, tất cả Mẹ muốn từ chị em. Nếu trong trái tim của chị em tất cả chỉ vì cho Chúa Giêsu qua Mẹ Maria và nếu chị em làm mọi sự chỉ vì Chúa Giêsu qua Mẹ Maria, thì chị em đích thực là Nữ tu Thừa Sai Bác Ái.

Cám ơn chị em vì tất cả những lời chúc yêu mến mà chị em gửi tới trong dịp Lễ của Hội Dòng chúng ta. Chúng ta có nhiều điều phải cám tạ Thiên Chúa, đặc biệt vì Người đã ban cho chúng ta tinh thần của Đức Mẹ, cũng là tinh thần của Hội Dòng. Sự tín tưởng yêu mến và Sự Tận Hiến trọn vẹn đã khiến cho mẹ nói tiếng “xin vâng” với lời truyền tin của thiên sứ, và Lòng Vui Tuơi khiến Mẹ vội vã tới phục vụ người chi họ Elizabeth. Đó cũng chính là cuộc sống của chúng ta - nói tiếng “xin vâng với Chúa Giêsu và vội vàng phục vụ Người trong những người khó nhất trong những người nghèo. Chúng ta hãy sống gần gủi Mẹ và Mẹ sẽ giúp tinh thần đó lớn lên trong mỗi người chúng ta.

Ngày 10 tháng 9 (*) sắp tới nơi. Đó là cơ hội tốt đẹp cho chúng ta đứng gần Mẹ, lắng nghe Cơn Khát Vọng của Chúa Giêsu và trả lời với hết tâm can của chúng ta. Chỉ cùng với Mẹ Maria chúng ta mới nghe được tiếng kêu than “Ta Khát” của Chúa Giêsu, và chỉ với mình Mẹ chúng ta có thể cảm tạ Thiên Chúa cách xứng hợp vì đã ban cho Hội Dòng chúng ta ơn cao trọng này. Năm vừa qua trong dịp kỷ niệm Lễ Kim Khánh Ngày được Ơn Linh Ứng, và tôi hy vọng rằng trong cả năm nay sẽ là thời gian biết ơn. Trong ngày hồng phúc này, chúng ta sẽ không bao giờ hết món quà mà chính Mẹ đã ban cho Dòng chúng ta. Và vì thế không bao giờ ngưng cám tạ vì điều đó. Hãy để lòng biết ơn của chúng ta trở thành quyết tâm mạnh mẽ làm tan biến đi cơn khát của Chúa Giêsu bằng đời sống bác ái thực sự -- yêu mến Chúa Giêsu trong cầu nguyện, yêu mến Chúa Giêsu trong các Chị Em của chúng ta, yêu mến Chúa Giêsu trong các người nghèo khó nhất trong các người nghèo, và không gì khác hơn thế cả.

Và giờ đây, tôi nghe thấy được rằng Chúa Giêsu đang ban tặng cho chúng ta một món quà nữa. Năm nay, sau hơn 100 năm thánh nữ Hoa Hồng Bé Nhỏ của Chúa Giêsu về nhà Cha trên trời, Đức Thánh Cha tuyên dương Thánh Nữ Hoa Hồng Nhỏ là tiến sĩ Hội Thánh, như thánh Augustine và Thánh Têrêsa Cả! Đúng như Chúa Giêsu nói trong Phúc Âm với những người ngồi tại những nơi thấp nhất, “Các bạn hãy tiến lên chỗ cao hơn”. Do vậy chúng ta hãy giữ vị trí rất nhỏ và theo đường lối bé mọn của Hoa Hồng Nhỏ, con đường tín thác, tình yêu và vui tươi, và chúng ta sẽ hoàn thành lời hứa của Mẹ Maria là ban các thánh nhân cho Mẹ Giáo Hội.

(*) Vào ngày 10-9-1946 trong chuyến xe lửa từ Calcutta tới Darjeeling trên đường đi dự tuần tĩnh tâm hằng năm, Mẹ Têrêsa nhận được ơn “linh ứng”, ơn gọi từ ơn gọi là: phục vụ những người nghèo khó nhất trong những người nghèo.

LM Trần Công Nghị
Vietcatholic.net


5 năm sau khi Mẹ Têrêsa qua đời trong cảnh khó nghèo giữa các người nghèo khó nhất của Calcutta
09/09/2002

Mùng 5 tháng 9 năm 1997, cách đây đúng 5 năm, Mẹ Têrêsa thành Calcutta, sáng lập Dòng Các Nữ tu Thừa sai bác ái, qua đời trong cảnh khó nghèo giữa các người nghèo khó nhất của Calcutta, thành phố đã được liên kết với tên Mẹ và với sứ mệnh tông đồ của Mẹ.

Mẹ qua đời trong cảnh nghèo khó giữa những người nghèo khó nhất trên thế giới này. Mẹ chỉ để lại làm gia tài một Ảnh Thánh giá và một tràng hạt đã bị mòn đi nhiều; đây là tràng hạt mà Mẹ luôn luôn cầm trong tay, để cầu nguyện, bất cứ ở nơi nào, bất cứ lúc nào, cả lúc Mẹ gặp các Vị lãnh đạo các quốc gia, hay Cộng đồng quốc tế, cả lúc Mẹ lãnh Giải thưởng Nobel về hòa bình năm 1979 tại Stockolm, thủ đô Thụy điển. Trước khi qua đời, Mẹ còn xin tháo bỏ đôi giép (sandales) đơn sơ và cũ kỹ, để Mẹ có thể đến trước mặt Chúa không giầy, không giép, trong sự khiêm tốn tuyệt đối của một trong các người nghèo khó nhất trên thế giới này.

Mẹ qua đi trong khó nghèo vật chất, nhưng đã để lại một gia tài thiêng liêng vô giá. Các người thừa kế gia tài này không phải chỉ là những ai đã sống bên cạnh Mẹ và thi hành cũng một sứ mệnh của Mẹ. Các người thừa kế gia tài của Mẹ có thể nói được là tất cả mọi người chúng ta, không phân biệt có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng, bởi vì tất cả chúng ta, không trừ một ai cả, đều được mời gọi nhìn nhận khuôn mặt của Chúa Kitô nơi dung mạo của tất cả những ai bị đau khổ. Nhân loại đau khổ kêu cứu và chất vấn lương tâm mỗi một người trong chúng ta.

Thật là một gương mù hết sức lố bịch, nếu chúng ta nghĩ đến Hội nghị thượng đỉnh vừa qua tại Johannesburg. Trong lúc người dân đói khổ, không cơm ăn, không nước uống, các phái đoàn hùng hậu của các quốc gia tham dự Hội Nghị, sống tại các khách sạn bốn sao, năm sao, với những thực phẩm hảo hạng, cả rượu champagne được chở từ các nước Tây phương đến Johannesburg, để thỏa mãn khẩu vị của các phái đoàn trong 10 ngày Hội nghị thượng đỉnh. Trước hội nghị, nhà cầm quyền Nam phi ra lệnh quét sạch các người hành khất khỏi thành phố. Các phái đoàn không dám viếng thăm vùng ngoại ô, xóm nhà lá, ổ chuột, nơi các người nghèo sống chui rúc, thiếu thốn mọi dịch vụ vệ sinh. Cảnh Lagiaro nghèo khổ, bệnh hoạn, nằm trước cửa nhà người hộ phú chờ đợi những mụn bánh rơi rớt từ mân cao cỗ đầy... vẫn tiếp diễn hằng ngày trên thế giới văn minh này, một thế giới vẫn tự phụ tiến bộ về mọi phương diện, nhưng đầy bất công, ích kỷ, trục lợi...

Chúng ta có thể nhắc lại nơi đây lời Mẹ Têrêsa trả lời cho một phóng viên báo chí đến quan sát công việc của Mẹ tại Calcutta. Thấy Mẹ làm những công việc ghê tởm: cúi mình trước những người hấp hối, người phong cùi, ông nói với Mẹ: Nếu có ai cho tôi một triệu Mỹ kim đi nữa, tôi cũng không có can đảm làm những việc ghê tởm như vậy. Mẹ trả lời: Tôi không làm vì tiền bạc. Tôi làm vì tôi nhìn thấy khuôn mặt của Chúa đau khổ nơi anh chị em tôi. Khẩu hiệu được viết khắp nơi tại các cơ sở của Mẹ là chính lời Chúa Giêsu nói trên Thánh Giá: Ta khát: Ta khát tình yêu! Đây là cái Mẹ Têrêsa và các con cái của Mẹ đang ban phát cho nhân loại đau khổ, bị loại ngoài lề xã hội.

Để biểu lộ lòng biết ơn Mẹ, vị đại ân nhân không những của Calcutta, của Ấn độ mà thôi, nhưng của cả nhân loại đau khổ, ngày 13 tháng 9 năm 1997, Chính phủ đã tổ chức lễ nghi an táng hết sức long trọng, với sự tham dự của nhiều vị quốc trưởng và thủ tướng trên thế giới. Quốc táng như vậy chỉ dành cho lãnh tụ Mahatma Gandhi, vị Anh hùng của nền độc lập Dân tộc mà thôi. Trong ngày lễ an táng Mẹ Têrêsa, Ấn độ như ngừng mọi hoạt động để cùng nhau hướng về Calcutta và nói lên lời cảm ơn Vị Nữ tu của Giáo hội công giáo, đã hy sinh suốt cuộc đời cho các người nghèo khổ nhất trong các người nghèo khổ. Người dân Ấn độ không phân biệt tôn giáo: Ấn giáo, Hồi giáo, Kitô giáo đều nghiêng mình trước thi hài của Vị Nữ tu nầy, nhỏ bé về thể xác, nhưng là một vĩ nhân trước nhân loại và trước Thiên Chúa.

ĐTC Gioan Phaolô II biết Mẹ từ lâu và đã viếng thăm cơ sở của Mẹ tại Calcutta trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Ấn độ tháng hai năm 1986. ĐTC đã cử ĐHY Angelo Sodano, Quốc Vụ Khanh, làm Đặc sứ của ngài, chủ tế thánh lễ an táng Mẹ Têrêsa. Và chính ĐTC, theo lời thỉnh cầu của nhiều Giám mục và giáo dân trên thế giới, đã ban phép làm án phong Chân phước cho Mẹ trên cấp giáo phận, sau hai năm qua đời, thay vì 5 năm theo luật ấn định. Công việc được khởi sự ngày 26/07/1999, và ngày Lễ Đức Mẹ linh hồn và xác lên trời năm 2001 vừa qua, tất cả các hồ sơ đã được Đức TGM Calcutta chuyển về Bộ Phong Thánh ở Roma. Bộ Phong Thánh đang xúc tiến nhanh chóng, để trong thời gian gần đây, Mẹ Têrêsa được cất nhắc lên danh dự bàn thờ. Dĩ nhiên người dân, Công giáo hay ngoài Công giáo, vẫn coi Mẹ là Thánh, ngay từ lúc còn sống và mộ của Mẹ tại Calcutta trở nên nơi hành hương và cầu nguyện hằng ngày. Nhưng để được tôn kính công khai, sự thánh thiện của Mẹ cần được Giáo hội chính thức công nhận và tuyên bố.

Có người hỏi: Mẹ Têrêsa đã làm những gì đặc biệt? Mẹ trả lời luôn luôn bằng lời này: Cái chúng tôi làm chỉ là một giọt nước trong Đại dương, nhưng nếu chúng tôi không làm thì Đại dương thiếu đi một giọt nước. Trong dịp khác Mẹ trả lời: Nhưng tôi có làm gì đặc biệt đâu.

Ngày nay gia đình tinh thần của Mẹ Têrêsa nguyên ngành nữ mà thôi có khoảng 4,500 Nữ tu huật động trong gần 700 nhà, rải rắc tại 127 quốc gia. Bề trên Tổng quyền Dòng Các Nữ Tu thừa sai bác ái, do Mẹ thiết lập ngày 7/10/1950 (Lễ kính Đức Maria rất thánh Mân côi) là Nữ Tu Nirmala Joshi, từ Ấn giáo trở lại Công giáo. Được hỏi: Từ ngày Mẹ qua đời, những gì đã thay đổi trong 5 năm nay, Vị Tổng phụ trách trả lời cách hết sức đơn sơ: Không có gì thay đổi cả, bởi vì các người nghèo luôn luôn ở giữa chúng tôi và Mẹ chỉ xa cách chúng tôi về thể xác mà thôi. Chúng tôi vẫn tiếp tục làm công việc Mẹ đã dạy chúng tôi bằng gương sáng của Mẹ. Chúng tôi phục vụ các người nghèo khổ, vì nơi họ chúng tôi nhìn ra chính Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu chúng tôi phục vụ nơi các người nghèo là chính Chúa Giêsu chúng tôi tôn thờ trong Thánh Thể. Vì lý do này chúng tôi là những người chiêm niệm trong hành động. Cũng nên nhắc lại: Mỗi ngày, mỗi Nữ tu thừa sai bác ái chầu Thánh Thể một giờ. Chính đây là sức sống, sức mạnh và thành công của các hoạt động của Hội Dòng. Mẹ Têrêsa thường nhắn nhủ con cái Mẹ như sau: Thì giờ trước Nhà Tạm với Chúa không phải là thì giờ mất đi.

Sau khi Mẹ qua đời, Dòng Nữ tu thừa sai bác ái đã trải qua cả kinh nghiệm của Phúc Tử đạo. Đây là điều Mẹ vẫn ước ao cho chính mình. Sáu Nữ tu của Dòng đã bị sát hại năm 1998 tại Yemen và năm 1999 tại Siera-Leone. Sơ Nirmala Joshi nói: Chúng tôi rất đau đớn, nhưng đồng thời chúng tôi hãnh diện và cảm tạ Chúa, bởi vì Người đã ghi dấu Hội Dòng chúng tôi bằng máu của các vị tử đạo, dù chúng tôi biết mình không xứng đáng với ơn lạ lùng này. Chính Mẹ Têrêsa đã cầu xin ơn tử đạo, để hiến tất cả cho Giáo hội. Cũng vì lý do này chúng tôi biết rằng: Mẹ vẫn tiếp tục nâng đỡ và theo dõi các bước đi của chúng tôi. Sáu Nữ tu bị sát hại đã có kinh nghiệm về đói khát, mệt nhọc, bệnh tật, bị đe dọa tình mạng và chế nhạo... Các chị em này đã thấy những tàn bạo bạo vây chung quanh mình, đã thấy sự chết trước mắt: cái chết của những anh chị em mình và của biết bao người vô tội. Các chị em này không sợ chết và hô lớn tiếng xin đừng giết những người đã sát hại chị em mình, bởi chính Chúa Giêsu đã dạy tha thứ không phải một lần, nhưng bẩy mươi bẩy lần bẩy.

Chính Mẹ Têrêsa đã soạn ra những lời tổng kết bí quyết sống tình bác ái như sau: Thành quả của yên lặng là cầu nguyện - Thành quả của cầu nguyện là đức tin - Thành quả của đức tin là tình yêu - Thành quả của tình yêu là phục vụ - Thành quả của phục vụ là hòa bình. Bí quyết vắn tắt trên đây luôn luôn được kèm theo lời nguyện: Lạy Chúa, xin làm cho chúng con xứng đáng phục vụ các người nghèo.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài