Tông Huấn ''Lời Chúa'' Của Đức Bênêđíctô XVI (hết)


KẾT LUẬN

Lời dứt khoát của Thiên Chúa

Để kết thúc các suy tư mà tôi vừa dùng để t́m cách thu thập và xem sét đầy đủ hơn các thành quả phong phú của Cuộc Họp Thường Lệ Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội, tôi muốn một lần nữa khuyến khích toàn thể Dân Chúa, các mục tử, các người sống đời tận hiến và các giáo dân hăy trở nên thân quen hơn với Sách Thánh. Ta không bao giờ nên quên rằng mọi nền linh đạo Kitô Giáo chân chính và sống động đều đặt căn bản trên lời Chúa được công bố, được chấp nhận, được cử hành và được suy niệm trong Giáo Hội. Mối liên hệ với lời Chúa có tính đào sâu này sẽ diễn ra một cách hào hứng hơn nếu ta biết ư thức rằng trong Sách Thánh và Truyền Thống sống động của Giáo Hội, ta đứng trước lời dứt khoát của Thiên Chúa phán trên vũ trụ và trên lịch sử.

Tự Ngôn của Tin Mừng Thánh Gioan dẫn ta tới việc suy đi nghĩ lại sự kiện này: mọi sự hiện hữu đều hiện hữu dưới dấu chỉ của Lời. Lời phát xuất thẳng từ Chúa Cha mà ra, đến cư ngụ giữa chúng ta và rồi quay về cùng Chúa Cha ngơ hầu đem theo với Người cả sáng thế vốn đă được tạo nên nơi Người và cho Người. Nay Giáo Hội đang tiến hành sứ vụ của ḿnh trong niềm hoài mong tha thiết được thấy Lang Quân của ḿnh mau xuất hiện cánh chung: “Thần Khí và Tân Nương nói: ‘Xin hăy đến!’” (Kh 22:17). Ḷng hoài mong này không bao giờ có tính thụ động; đúng hơn, nó là lực thúc đẩy truyền giáo ra đi công bố lời Chúa, lời vốn chữa lành và cứu chuộc mọi người. Cả ngày nay nữa, Chúa Giêsu Phục Sinh cũng đang nói với ta: “Hăy đi khắp thế giới và công bố Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16:15).

Tân phúc âm hóa và một lối nghe mới

Như thế, thời đại ta cần phải được đánh dấu ngày một hơn bằng một lối nghe mới đối với lời Chúa và một lối tân phúc âm hóa. Phục hồi tính trung tâm của lời Chúa trong đời sống Kitô Giáo sẽ dẫn chúng ta tới việc biết đánh giá như mới ư nghĩa sâu xa nhất trong lời kêu gọi mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: là theo đuổi missio ad gentes (việc truyền giáo) và mạnh bạo dấn thân vào việc tân phúc âm hóa, nhất là giữa các dân tộc nơi Tin Mừng bị lăng quên hay đang gặp dửng dưng do hậu quả của chủ nghĩa duy tục phổ quát. Xin Chúa Thánh Thần làm sống dậy sự khát khao lời Chúa, và làm trổi sinh nhiều sứ giả và nhân chứng nhiệt thành của Tin Mừng.

Theo gương vị Tông Đồ Vĩ Đại của Dân Ngoại, người đă thay đổi ḍng đời của ḿnh sau khi nghe tiếng Chúa (xem Cv 9:1-30), ta hăy nghe lời Chúa như đang nói với ta, lúc này và tại đây, lúc nào cũng đích danh. Ta được Công Vụ Tông Đồ thuật lại: Chúa Thánh Thần đặt riêng Phaolô và Barnaba cho việc công bố và truyền bá Tin Mừng (xem 13:2). Cả ngày nay nữa, Chúa Thánh Thần cũng không ngừng kêu gọi cho có những người nghe và những vị giảng thuyết lời Chúa đầy xác tín và thuyết phục.

Lời Chúa và niềm vui

Việc cởi mở của ta với lời Chúa càng lớn th́ ta càng có khả năng nhận thức rằng cả nay nữa, mầu nhiệm Hiện Xuống vẫn đang xẩy ra trong Giáo Hội của Chúa. Thần Khí Chúa vẫn tiếp tục đổ tràn ơn phúc của Người trên Giáo Hội để hướng dẫn ta vào mọi chân lư, để cho ta thấy ư nghĩa Sách Thánh và làm ta trở thành sứ giả khả tín của lời cứu rỗi trước mặt thế giới. Như thế, ta đă trở lại với Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan. Trong lời Chúa, ta cũng đă nghe, ta cũng đă nh́n và đă đụng tới Lời ban sự sống. Nhờ ơn thánh, ta đă nghinh đón lời công bố rằng sự sống đời đời đă được mạc khải, và do đó, ta đă tiến tới việc nhận ra sự hiệp thông của ta với nhau, với những người đă đi trước chúng ta được ghi dấu bằng dấu chỉ đức tin, và với mọi người trên khắp thế giới đang nghe lời Chúa, đang cử hành Thánh Thể, và đang đem đời sống ḿnh ra làm chứng cho t́nh yêu. Thánh Gioan Tông Đồ nhắc nhở ta rằng: lời công bố này đă được chia sẻ với ta để “niềm vui của ta được hoàn toàn” (1 Ga 1:4).

Cuộc hội họp của Thượng Hội Đồng giúp ta khả năng cảm nghiệm được mọi điều Thánh Gioan nói đến: việc công bố lời tạo ra hiệp thông và mang lại niềm vui. Đây là một niềm vui sâu xa bắt nguồn từ chính trung tâm sự sống Ba Ngôi và được thông truyền cho ta nơi Chúa Con. Niềm vui này là một hồng ân khôn tả mà thế giới không thể nào ban tặng được. Người ta có thể tổ chức các cuộc cử hành lễ lạc, nhưng niềm vui th́ không. Theo Sách Thánh, niềm vui là hoa trái của Chúa Thánh Thần (xem Gl 5:22), Đấng giúp ta bước vào lời Chúa và giúp lời Chúa bước vào trong ta và đem lại hoa trái sự sống đời đời. Qua việc công bố lời Chúa nhờ quyền lực Chúa Thánh Thần, ta cũng muốn chia sẻ nguồn suối của niềm vui đích thực, không phải thứ niềm vui hời hợt mau qua, nhưng là niềm vui phát sinh từ việc ư thức rằng chỉ một ḿnh Chúa Giêsu mới có lời hằng sống (xem Ga 6:68).

"Mater Verbi et Mater laetitiae" (Mẹ của Lời và Mẹ của niềm vui)

Tương quan chặt chẽ giữa lời Chúa và niềm vui khá hiển nhiên nơi Mẹ Thiên Chúa. Ta hăy nhớ lại lời Thánh Nữ Êlisabét: “Phúc cho người tin rằng sẽ có sự nên trọn đối với điều Chúa đă nói với họ” (Lc 1:45). Đức Maria có phúc v́ ngài có đức tin, v́ ngài đă tin, và trong đức tin này, ngài đă tiếp nhận Lời Chúa trong ḷng ḿnh để rồi ban Người cho thế giới. Niềm vui phát sinh từ Lời Chúa nay có thể trải dài tới tận những người, nhờ đức tin, biết để ḿnh được lời Chúa thay đổi. Tin Mừng Luca tŕnh bày mầu nhiệm nghe và vui này trong hai bản văn. Chúa Giêsu nói: “Mẹ và anh em tôi là những ai nghe lời Thiên Chúa và thực hành nó” (8:21). Và khi trả lời người đàn bà trong đám đông lên tiếng chúc phúc ḷng đă cưu mang Người và vú đă cho Người bú, Chúa Giêsu bật mí niềm vui thực sự: “Đúng hơn phúc cho những ai nghe lời Thiên Chúa và vâng theo nó!” (11:28). Chúa Giêsu chỉ cho thấy rơ sự cao cả thực sự của Đức Maria, khiến mỗi người chúng ta có thể đạt tới được mối phúc vốn phát sinh từ việc tiếp nhận lời Chúa và đem nó ra thực hành. Tôi xin nhắc nhở mọi Kitô hữu rằng mối liên hệ bản thân và cộng đoàn của ta với Thiên Chúa tùy thuộc ở việc ta càng ngày càng thân quen với lời Chúa. Sau cùng, tôi hướng về mọi người nam nữ, kể cả những người đă rời xa Giáo Hội, đă từ bỏ đức tin hay chưa bao giờ nghe công bố ơn cứu độ. Đối với mọi người, Chúa từng nói: “Này, Ta đang đứng ngoài cửa và gơ, nếu bất cứ ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ vào với họ và ăn với họ, và họ sẽ ăn với Ta” (Kh 3:20).

Mong sao mọi ngày trong đời ta đều được lên khuôn bởi cuộc gặp gỡ đổi mới với Chúa Kitô, Lời của Chúa Cha đă thành Xác Phàm: Người đứng ở nguyên khởi và kết thúc, và “trong Người mọi sự đều tồn tại” (Cl 1:17).Ta hăy lặng thinh để nghe lời Chúa và suy niệm về lời ấy, để nhờ hành động của Chúa Thánh Thần, nó ở măi trong trái tim ta và nói với ta mọi ngày trong đời Ta. Bằng cách đó, Giáo Hội sẽ luôn được canh tân và tươi trẻ trở lại, nhờ lời Chúa hiện diện măi măi (xem 1Pr 1:25; Is 40:8). Nhờ thế, cả chúng ta nữa sẽ bước vào cuộc đối thoại tân hôn vĩ đại vốn kết thúc Sách Thánh: “Thần Khí và Tân Nương cùng nói: ‘Xin Ngài ngự đến!’ Ai nghe, hăy nói: ‘Xin Ngài ngự đến!’ Đấng làm chứng về những điều đó phán rằng: ‘Phải, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến’. Amen, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22: 17, 20).

Ban hành tại Rôma, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 30 tháng 9, Ngày Lễ Thánh Giêrôm, năm 2010, năm thứ 6 Triều Giáo Hoàng của tôi.

BÊNÊĐÍCTÔ XVI

Chú Thích

[1] Xem Đề nghị 1.

[2] Xem Cuộc Họp Thường Lệ Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Giám Mục, Tài Liệu Làm Việc, 27.

[3] Xem Lêô XIII, Thông Điệp Providentissimus Deus (18/11/ 1893): ASS 26 (1893-94), 269-292; Bênêđíctô XV, Thông Điệp Spiritus Paraclitus (15/09/1920): AAS 12 (1920), 385-422; PIÔ XII, Thông Điệp Divino Afflante Spiritu (30/09/1943): AAS 35 (1943), 297-325.

[4] Đề Nghị 2.

[5] Đă dẫn.

[6] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 2.

[7] Đă dẫn, 4

[8] Đáng lưu ư trong số các loại can thiệp khác nhau là: Phaolô VI, Tông Thư Summi Dei Verbum (4/11/1963): AAS 55 (1963), 979-995; Tự Sắc Sedula Cura (27/06/1971): AAS 63 (1971), 665-669; Gioan Phaolô II, Yết Kiến Chung (01/05/1985): L'Osservatore Romano, 2-3/05/1985, p. 6; Diễn Văn về Việc Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (23/04/1993): AAS 86 (1994), 232-243; Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Trước Hội Nghị Quốc Tế tổ chức nhân Kỷ Niệm 40 Năm Hiến Chế "Dei Verbum" (16/ 09/2005): AAS 97 (2005), 957; Kinh Truyền Tin (06/11/2005): Insegnamenti I (2005), 759-760. Cũng đáng nhắc tới các can thiệp của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, De Sacra Scriptura et Christologia (1984): Enchiridion Vaticanum 9, các số 1208-1339; Hợp Nhất và Đa Dạng Trong Giáo Hội (11/04/1988): Enchiridion Vaticanum 11, các số 544-643; Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993): Enchiridion Vaticanum 13, các số 2846-3150; Dân Do Thái Và Sách Thánh Của Họ Trong Sách Thánh Kitô Giáo (24/05/2001): Enchiridion Vaticanum 20, cá số 733-1150; Thánh Kinh Và Luân Lư Tính: Gốc Rễ Thánh Kinh Của Tác Phong Kitô Giáo (11/05/2008): Vatican City, 2008.

[9] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Trước Giáo Triều (22/12/2008): AAS 101 (2009), 49.

[10] Xem Đề Nghị 37.

[11] Xem Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Dân Do Thái Và Sách Thánh Của Họ Trong Sách Thánh Kitô Giáo (24/05/2001): Enchiridion Vaticanum 20, Các số 733-1150.

[12] Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Trước Giáo Triều (22/12/2008): AAS 101 (2009), 50.

[13] Xem Bênêđíctô XVI, Kinh Truyền Tin (04/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 13.

[14] Xem Phúc Tŕnh Trước Khi Thảo Luận, I.

[15] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 2.

[16] Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 1: AAS 98 (2006), 217-218.

[17] Tài liệu làm việc, 9.

[18] Kinh Tin Kính Nixen-Constantinốp DS 150.

[19] Thánh Bernard Thành Clairvaux, Homilia super missus est, IV, 11: PL 183, 86B.

[20] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 10.

[21] Xem Đề Nghị 3.

[22] Xem Bộ Giáo Lư Đức Tin, Tuyên Ngôn Về Tính Duy Nhất Và Cứu Độ Phổ Quát Của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội Dominus Iesus (06/08/2000), 13-15: AAS 92 (2000), 754-756.

[23] Xem In Hexaemeron, XX, 5: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 425-426; Breviloquium I, 8: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 216-217.

[24] Itinerarium mentis in Deum, II, 12: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 302-303; Xem Commentarius in librum Ecclesiastes, Cap. 1, vers. 11; Quaestiones, II, 3: Opera Omnia VI, Quaracchi 1891, p. 16.

[25] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 3; Xem Công Đồng Vatican I, Hiến Chế Tín Lư về Đức Tin Công Giáo Dei Filius, Chap. 2, De Revelatione: DS 3004.

[26] Đề Nghị 13.

[27] Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Đi T́m Nền Đạo Đức Học Phổ Quát: Một Cái Nh́n Mới về Luật Tự Nhiên, Vatican City, 2009, No. 39.

[28] Xem Summa Theologiae, Ia-IIae, q. 94, a. 2.

[29] Xem Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Thánh Kinh Và Luân Lư Tính: Gốc Rễ Thánh Kinh Của Tác Phong Kitô Giáo (11/05/2008), Vatican City, 2008, Nos. 13, 32, 109.

[30] Xem Ủy Ban Thần Học Quốc Tế, Đi T́m Nền Đạo Đức Học Phổ Quát: Một Cái Nh́n Mới về Luật Tự Nhiên, Vatican City, 2009, No. 102.

[31] Xem Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Khi Cử Hành Giờ Kinh Ba Ngày Khởi Đầu Phiên HọpToàn Thể Đầu Tiên Thượng Hội Đồng Giám Mục (06/10/2008): AAS 100 (2008), 758-761.

[32] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 14.

[33] Bênêđictô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 1: AAS 98 (2006), 217-218.

[34] "Ho Logos pachynetai (hay: brachynetai)". Xem Origen, Peri Archon, I, 2,8: SC 252, 127-129.

[35] Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Thánh Lễ Trọng Thể Kính Sinh Nhật Chúa (24/12/2006): AAS 99 (2007), 12.

[36] Xem Thông Điệp Cuối Cùng, II, 4-6.

[37] Maximus Hiển Tu, Cuộc Đời Đức Mẹ, số 89: Testi mariani del primo millennio, 2, Rome, 1989, p. 253.

[38] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 9-10: AAS 99 (2007), 111-112.

[39] Bênêđíctô XVI, Yết Kiến Chung (15/04/2009): L'Osservatore Romano, 16 tháng Tư 2009, p.1.

[40] Đă dẫn, Bài Giảng Lễ Trọng Hiển Linh (06/01/2009): L'Osservatore Romano, 7-8 Tháng Giêng 2009, tr. 8.

[41] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 4.

[42] Đề Nghị 4.

[43] Thánh Gioan Thánh Giá, Lên Núi Cácmen, II, 22.

[44] Đề Nghị 47.

[45] Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, 67.

[46] Xem Bộ Giáo Lư Đức Tin, Sứ Điệp Fatima (26/06/2000): Enchiridion Vaticanum 19, các số 974-1021.

[47] Adversus Haereses, IV, 7, 4: PG 7, 992-993; V, 1, 3: PG 7, 1123; V, 6, 1: PG 7, 1137; V, 28, 4: PG 7, 1200.

[48] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 12: AAS 99 (2007), 113-114.

[49] Xem Đề Nghị 5.

[50] Adversus Haereses, III, 24, 1: PG 7, 966.

[51] Homiliae in Genesim, XXII, 1: PG 53, 175.

[52] Epistula 120, 10: CSEL 55, 500-506.

[53] Homiliae in Ezechielem, I, VII, 17: CC 142, p. 94.

[54] "Oculi ergo devotae animae sunt columbarum quia sensus eius per Spiritum sanctum sunt illuminati et edocti, spiritualia sapientes. Nunc quidem aperitur animae talis sensus, ut intellegat Scripturas": Richard thuộc (Đan Viện) Saint Victor, Explicatio in Cantica Canticorum, 15: PL 196, 450B and D.

[55] Sacramentarium Serapionis II (XX): Didascalia et Constitutiones Apostolorum, F.X. Funk chủ biên, II, Paderborn, 1906, p. 161.

[56] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 7.

[57] Đă dẫn, 8.

[58] Đă dẫn.

[59] Xem Đề Nghị 3.

[60] Xem Thông Điệp Cuối Cùng II, 5.

[61] Expositio Evangelii secundum Lucam, 6, 33: PL 15, 1677.

[62] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 13.

[63] Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, 102; Cũng xem Rupert of Deutz, De Operibus Spiritus Sancti, I, 6: SC 131:72-74.

[64] Enarrationes in Psalmos, 103, IV, 1: PL 37, 1378. Các phát biều tương tự trong ORIGEN, In Iohannem V, 5-6: SC 120, pp. 380-384.

[65] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 21.

[66] Đă dẫn, 9.

[67] Xem Đề Nghị 5 và 12.

[68] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 12.

[69] Xem Đề Nghị 12.

[70] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 11.

[71] Đề Nghị 4.

[72] Prol: Opera Omnia V, Quaracchi 1891, pp. 201-202.

[73] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Trước Đại Biểu Thế Giới Văn Hóa tại "Collège des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 721-730.

[74] Xem Đề Nghị 4.

[75] Xem Phúc Tŕnh Sau Thảo Luận, 12.

[76] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 5.

[77] Đề Nghị 4.

[78] Thí dụ: Dt 28:1-2,15,45; 32:1; trong số các tiên tri, xin xem: Gr 7:22-28; Ed 2:8; 3:10; 6:3; 13:2; cũng xem Dcr 3:8. Về Thánh Phaolô, xem Rm 10:14-18; 1Tx 2:13.

[79] Đề Nghị 55.

[80] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 33: AAS 99 (2007), 132-133.

[81] Đă dẫn, Thông Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 41: AAS 98 (2006), 251.

[82] Đề Nghị 55.

[83] Xem Expositio Evangelii secundum Lucam, 2, 19: PL 15, 1559-1560.

[84] Breviloquium, Prol.: Opera Omnia, V, Quaracchi 1891, pp. 201-202.

[85] Summa Theologiae, Ia-IIae, q. 106, art. 2.

[86] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), III, A, 3: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3035.

[87] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 12.

[88] Contra epistulam Manichaei quam vocant fundamenti, V, 6: PL 42, 176.

[89] Xem Bênêđíctô XVI, Yết Kiến Chung (14/11/2007): Insegnamenti III 2 (2007), 586-591.

[90] Commentariorum in Isaiam libri, Prol.: PL 24, 17.

[91] Epistula 52:7: CSEL 54, p. 426.

[92] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), II, A, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2988.

[93] Đă dẫn, II, A, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2991.

[94] Homiliae in Ezechielem I, VII, 8: PL 76, 843D.

[95] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 24; Xem Lêô XIII, Thông Điệp Providentissimus Deus (18/11/1893), Pars II, sub fine: ASS 26 (1893-94), 269-292; Bênêđíctô XV, Thông Điệp Spiritus Paraclitus (15/09/1920), Pars III: AAS 12 (1920), 385-422.

[96] Xem Đề Nghị 26.

[97] Xem Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), A-B: Enchiridion Vaticanum 13, Nos. 2846-3150.

[98] Bênêđíctô XVI, Can Thiệp tại Phiên Họp Toàn Thể Thứ Mười Bốn của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 492; Xem Đề Nghị 25.

[99] Đă dẫn, Diễn Văn Với Các Đại Biểu Thế Giới Văn Hóa tại "Collège des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 722-723.

[100] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 10.

[101] Xem Gioan Phaolô II, Diễn Văn Dịp Cử Hành Một Trăm Năm Thông Điệp Providentissimus Deus và Kỷ Niệm 50 Năm Thông Điệp Divino Afflante Spiritu (23/04/1993): AAS 86 (1994), 232-243.

[102] Đă dẫn, 4: AAS 86 (1994), 235.

[103] Đă dẫn, 5: AAS 86 (1994), 235.

[104] Đă dẫn, 5: AAS 86 (1994), 236.

[105] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), III, C, 1: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3065.

[106] No. 12.

[107] Bênêđíctô XVI, Can Thiệp Tại Phiên Họp Toàn Thể Thứ Mười Bốn Của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 493; Xem Đề Nghị 25.

[108] Xem Đề Nghị 26.

[109] Đề Nghị 27.

[110] Bênêđíctô XVI, Can Thiệp Tại Phiên Họp Toàn Thể Thứ Mười Bốn Của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 493; cf. Propositio 26.

[111] Xem đă dẫn.

[112] Đă dẫn.

[113] Xem Đề Nghị 27.

[114] Bênêđíctô XVI, Can Thiệp Tại Phiên Họp Toàn Thể Thứ Mười Bốn Của Thượng Hội Đồng (14/10/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 493-494.

[115] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Fides et Ratio (14/09/1998), 55: AAS 91 (1999), 49-50.

[116] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Gửi Đại Hội Toàn Quốc Lần Thứ Bốn Tại Ư (19/10/2006): AAS 98 (2006), 804-815.

[117] Xem Đề Nghị 6.

[118] Xem Thánh Augustinô, De libero arbitrio, III, XXI, 59: PL 32, 1300; De Trinitate, II, I, 2: PL 42, 845.

[119] Bộ Giáo Dục Công Giáo, Huấn Thị Inspectis Dierum (10/11/1989), 26: AAS 82 (1990), 618.

[120] Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, 116.

[121] Summa Theologiae, I, q. 1, art. 10, ad 1.

[122] Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, 118.

[123] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), II, A, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2987.

[124] Đă dẫn, II, B, 2: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3003.

[125] Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Với Các Đại Biểu Thế Giới Văn Hóa tại "Collège des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 726.

[126] Đă dẫn.

[127] Xem đă dẫn, Yết kiến chung (09/ 01/2008): Insegnamenti IV, 1 (2008), 41-45.

[128] Xem Đề Nghị 29.

[129] De Arca Noe, 2, 8: PL 176, 642C-D.

[130] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Với Các Đại Biểu Thế Giới Văn Hóa tại "Collège des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 725.

[131] Xem Đề Nghị 10; Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Dân Do Thái Và Sách Thánh Của Họ Trong Sách Thánh Kitô Giáo (24/05/2001): Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 748-755.

[132] Xem Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, 121-122.

[133] Đề Nghị 52.

[134] Xem Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Dân Do Thái Và Sách Thánh Của Họ Trong Sách Thánh Kitô Giáo (24/05/2001), 19: Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 799-801; Origen, Bài Giảng về Các Con Số 9,4: SC 415, 238-242.

[135] Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, 128.

[136] Đă dẫn, 129.

[137] Đề Nghị 52.

[138] Quaestiones in Heptateuchum, 2, 73: PL 34, 623.

[139] Homiliae in Ezechielem I, VI, 15: PL 76, 836B.

[140] Đề Nghị 29.

[141] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Gửi Đại Giáo Trưởng Rôma (22/05/2004): Insegnamenti XXVII, 1 (2004), p. 655.

[142] Xem Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Dân Do Thái Và Sách Thánh Của Họ Trong Sách Thánh Kitô Giáo (24/05/2001), 87: Enchiridion Vaticanum 20, No. 1150.

[143] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Từ Giă Tại Phi Trường Quốc Tế Ben Gurion ở Tel Aviv (15/05/2009): Insegnamenti, V, 1 (2009), 847-849.

[144] Gioan Phaolô II, Diễn Văn với Các Đại Giáo Trưởng Israel (23/03/2000): Insegnamenti XXIII, 1 (2000), 434.

[145] Xem Đề Nghị 46 và 47.

[146] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993) I, F: Enchiridion Vaticanum 13, No. 2974.

[147] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Với Các Đại Biểu Thế Giới Văn Hóa tại "Collège des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 726.

[148] Đề Nghị 46.

[149] Đề Nghị 28.

[150] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 23.

[151] Tuy nhiên, cần nhắc nhở rằng về các sách gọi là thứ kinh (deuterocanonical) trong Bộ Cựu Ước và sự linh hứng của chúng, Người Công Giáo và Chính Thống không có cùng một qui điển như người Anh Giáo và Thệ Phản.

[152] Xem Phúc Tŕnh sau Thảo Luận, 36.

[153] Đề Nghị 36.

[154] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn với Hội Nghị Thường Lệ Lần Thứ Mười Một Văn Pḥng Tổng Thư Kư Thượng Hội Đồng Giám Mục (25/01/2007): AAS 99 (2007), 85-86.

[155] Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Đại Kết Unitatis Redintegratio, 21.

[156] Xem Đề Nghị 36.

[157] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 10.

[158] Thông Điệp Ut Unum Sint (25/05/1995), 44: AAS 87 (1995), 947.

[159] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 10.

[160] Đă dẫn.

[161] Xem đă dẫn, 24.

[162] Xem Đề Nghị 22.

[163] Thánh Grêgôriô Cả, Moralia in Job XXIV, VIII, 16: PL 76, 295.

[164] Xem Thánh Athanasiô, Hạnh Thánh Antôn, II: PL 73:127.

[165] Moralia, Regula LXXX, XXII: PG 31, 867.

[166] Qui Luật, 73, 3: SC 182, 672.

[167] Thomas thành Celano, Hạnh Thánh Đầu Tiên Của Thánh Phanxicô, IX, 22: FF 356.

[168] Qui Luật, I, 1-2: FF 2750.

[169] Chân phúc Jordan thành Saxony, Libellus de principiis Ordinis Praedicatorum, 104; Monumenta Fratrum Praedicatorum Historica, Rome, 1935, 16, p. 75.

[170] Ḍng Anh Em Thuyết Giáo, Hiến Pháp Đầu Tiên hay Consuetudines, II, XXXI.

[171] Hạnh Thánh, 40, 1.

[172] Xem Truyện Một Linh Hồn, Ms B, 254.

[173] Đă dẫn, Ms C, 35v.

[174] In Iohannis Evangelium Tractatus, I, 12: PL 35, 1385.

[175] Thông Điệp Veritatis Splendor (06/08/1993), 25: AAS 85 (1993), 1153.

[176] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 8.

[177] Phúc Tŕnh sau Thảo Luận, 11.

[178] Số 1.

[179] Bênêđíctô XVI, Diễn Văn với Hội Nghị Quốc Tế “Thánh Kinh Trong Đời Sống Giáo Hội” (16/09/2005): AAS 97 (2005), 956.

[180] Xem Phúc Tŕnh Sau Thảo Luận, 10.

[181] Thông Điệp Cuối Cùng, III, 6.

[182] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 24.

[183] Đă dẫn, 7.

[184] Sách Các Bài Đọc Thánh Lễ, 4.

[185] Đă dẫn, 9.

[186] Đă dẫn, 3; xem Lc 4:16-21; 24:25-35, 44-49.

[187] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 102.

[188] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 44-45: AAS 99 (2007) 139-141.

[189] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993) IV, C, 1: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3123.

[190] Đă dẫn, III, B, 3: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3056.

[191] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 48, 51, 56; Hiến Chế Tín Lư Về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 21, 26; Sắc Lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, 6, 15; Sắc Lệnh về Thừa Tác Vụ và Đời Sống Các Linh Mục Presbyterorum Ordinis, 18; Sắc Lệnh về Canh Tân Đời Sống Tu Sĩ Perfectae Caritatis, 6. Trong Truyền Thống vĩ đại của Giáo Hội, ta thấy nhiều cách phát biểu có ư nghĩa như "Corpus Christi intelligitur etiam [...] Scriptura Dei" ("Sách Thánh của Thiên Chúa cũng được hiểu là Thân Thể Chúa Kitô”): Waltramus, De Unitate Ecclesiae Conservanda, 1, 14, do W. Schwenkenbecher chủ biên, Hanoverae, 1883, tr. 33; "Thịt Chúa là của ăn thực sự và máu Người thực là của uống; đây là sự tốt lành đích thực được dành cho ta ở đời này, để dưỡng nuôi ta bằng thịt của Người và uống máu của Người, không những chỉ trong Thánh Thể mà cả lúc đọc Sách Thánh nữa”: Thánh Giêrôm, Commentarius in Ecclesiasten, III: PL 23, 1092A.

[192] J. Ratzinger (Bênêđíctô XVI), Chúa Giêsu Thành Nadarét, New York, 2007, 268.

[193] Sách Các Bài Đọc Thánh Lễ, 10.

[194] Đă dẫn.

[195] Xem Đề Nghị 7.

[196] Thông Điệp Fides et Ratio (14/09/1998), 13: AAS 91 (1999), 16.

[197] Xem Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo, 1373-1374.

[198] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 7.

[199] In Psalmum 147: CCL 78, 337-338.

[200] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 2.

[201] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 107-108.

[202] Sách Các Bài Đọc Thánh Lễ, 66.

[203] Đề Nghị 16.

[204] Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 45: AAS 99 (2007), 140-141.

[205] Xem Đề Nghị 14.

[206] Xem Bộ Giáo Luật, cc. 230 §2; 204 §1.

[207] Sách Các Bài Đọc Thánh Lễ, 55

[208] Đă dẫn, 8.

[209] Số 46: AAS 99 (2007), 141.

[210] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 25.

[211] Đề Nghị 15.

[212] Đă dẫn.

[213] Sermo 179, 1: PL 38, 966.

[214] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 93: AAS 99 (2007), 177

[215] Bộ Thờ Phượng Thiên Chúa và Kỷ Luật Bí Tích, Compendium Eucharisticum (25/03/2009), Vatican City, 2009.

[216] Epistula 52, 7: CSEL 54, 426-427.

[217] Đề Nghị 8.

[218] Nghi Thức Thống Hối, 17.

[219] Đă dẫn, 19.

[220] Đề Nghị 8.

[221] Đề Nghị 19.

[222] Các nguyên tắc và qui luật dành cho Phụng Vụ Các Giờ Kinh, III, 15.

[223] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 85.

[224] Xem Bộ Giáo Luật, cc. 276 § 3, 1174 § 1.

[225] Xem Bộ Giáo Luật của Các Giáo Hội Đông Phương, cc. 377; 473 § 1 và, 1°; 538 § 1; 881 § 1.

[226] Sách Chúc Lành, nhập đề, 21.

[227] Xem Đề Nghị 18; Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 35.

[228] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 745: AAS 99 (2007), 162-163.

[229] Ibid.

[230] Bộ Thờ Phượng Thiên Chúa và Kỷ Luật Bí Tích, Hướng Dẫn Ḷng Đạo Đức B́nh Dân và Phụng Vụ, Các Nguyên Tắc và Chỉ Dẫn (17/12/2001), 87: Enchiridion Vaticanum 20, No. 2461.

[231] Xem Đề Nghị 14.

[232] Xem Thánh Ignaxiô Thành Antiốc, Ad Ephesios, XV, 2: Patres Apostolici, ed. F.X. Funk, Tubingae, 1901, I, 224.

[233] Thánh Augustinô, Sermo 288, 5: PL 38, 1307; Sermo 120, 2: PL 38, 677.

[234] Chỉ Thị Tổng Quát Về Sách Lễ Rôma, 56

[235] Đă dẫn, 45; Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 30.

[236] Sách Các Bài Đọc Thánh Lễ, 13.

[237] Xem đă dẫn, 17.

[238] Đề Nghị 40.

[239] Xem Chỉ Thị Tổng Quát Về Sách Lễ Rôma, 309.

[240] Xem Đề Nghị 14.

[241] Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 69: AAS 99 (2007), 157.

[242] Xem Chỉ Thị Tổng Quát Về Sách Lễ Rôma, 57.

[243] 14.

[244] Xem Qui Định 36 Của Thượng Hội Đồng Hippo năm 399: DS 186.

[245] Xem Gioan Phaolô II, Tông thư Vicesimus Quintus Annus (04/12/1988), 13: AAS 81 (1989) 910; Bộ Thờ Phượng Thiên Chúa và Kỷ Luật Bí Tích, Huấn Thị Redemptionis Sacramentum (25/03/2004), 62: Enchiridion Vaticanum 22, No. 2248.

[246] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 116; Chỉ Thị Tổng Quát Về Sách Lễ Rôma, 41.

[247] Xem Đề Nghị 14.

[248] Đề Nghị 9.

[249] Epistula 30, 7: CSEL 54, p. 246.

[250] Đă dẫn, Epistula 133, 13: CSEL 56, p. 260.

[251]Đă dẫn, Epistula 107, 9, 12: CSEL 55, pp. 300, 302.

[252]Đă dẫn, Epistula 52, 7: CSEL 54, p. 426.

[253] Gioan Phaolô II, Tông thư Novo Millennio Ineunte (06/01/2001), 31: AAS 93 (2001), 287-288.

[254] Đề Nghị 30; Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 24.

[255] Thánh Giêrôm, Commentariorum in Isaiam libri, Prol.: PL 24, 17B.

[256] Đề Nghị 21.

[257] Xem Đề Nghị 23.

[258] Xem Bộ Giáo Sĩ, Hướng Dẫn Giáo Lư Tổng Quát (15/08/1997), 94-96; Enchiridion Vaticanum, 16, các số 875-878; Gioan Phaolô II, Tông Huấn Catechesi Tradendae (16/10/1979), 27: AAS 71 (1979), 1298-1299.

[259] Đă dẫn, 127: Enchiridion Vaticanum 16, No. 935; cf. Gioan Phaolô II, Tông Huấn Catechesi Tradendae (16/10/1979), 27: AAS 71 (1979), 1299.

[260] Đă dẫn, 128: Enchiridion Vaticanum 16, No. 936.

[261] Xem Đề Nghị 33.

[262] Xem Đề Nghị 45.

[263] Xem Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư về Giáo Hội Lumen Gentium, 39-42.

[264] Đề Nghị 31.

[265] Số 15: AAS 96 (2004), 846-847.

[266] Số 26: AAS 84 (1992), 698.

[267] Đă dẫn.

[268] Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Thánh Lễ Truyền Dầu (09/04/2009): AAS 101 (2009), 355.

[269] Đă dẫn, 356.

[270] Bộ Giáo Dục Công Giáo, Các Qui Tắc Nền Tảng để Đào Tạo Các Phó Tế Vĩnh Viễn (22 /02/ 1998), 11: Enchiridion Vaticanum 17, các số 174-175.

[271] Đă dẫn, 74: Enchiridion Vaticanum 17, số 263.

[272] Đă dẫn, 81: Enchiridion Vaticanum 17, số 271.

[273] Đề Nghị 32.

[274] Xem Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Pastores Dabo Vobis (25/03/1992), 47: AAS 84 (1992), 740-742.

[275] Đề Nghị 24.

[276] Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Ngày Thế Giới Đời Sống Thánh Hiến (02/02/2008): AAS 100 (2008), 133; Xem Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Vita Consecrata (25/03/1996), 82: AAS 88 (1996), 458-460.

[277] Bộ Các Viện Đời Sống Thánh Hiến và Các Hội Đời Sống Tông Đồ, Khởi Đầu Mới Mẻ Từ Chúa Kitô: Một Dấn Thân Đổi Mới Với Đời Sống Thánh Hiến Trong Thiên Niên Kỷ Thứ Ba (19/05/2002), 24: Enchiridion Vaticanum 21, số 447.

[278] Xem Đề Nghị 24.

[279] Thánh Bênêđíctô, Qui Luật, IV, 21: SC 181, 456-458.

[280] Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Tại Đan Viện Heiligenkreuz (09/09/2007): AAS 99 (2007), 856.

[281] Xem Đề Nghị 30.

[282] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Christifideles Laici (30/12/1988), 17: AAS 81 (1989), 418.

[283] Xem Đề Nghị 33.

[284] Gioan Phaolô II, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Familiaris Consortio (22/11/1981), 49: AAS 74 (1982), 140-141.

[285] Đề Nghị 20.

[286] Xem Đề Nghị 21.

[287] Đề Nghị 20.

[288] Xem Tông Thư Mulieris Dignitatem (15/08/1988), 31: AAS 80 (1988), 1727-1729.

[289] Đề Nghị 17.

[290] Đề Nghị 9 và 22.

[291] Số 25.

[292] Enarrationes in Psalmos, 85, 7: PL 37, 1086.

[293] Origen, Epistola ad Gregorium, 3: PG 11, 92.

[294] Bênêđíctô XVI, Diễn Văn với Sinh Viên Đại Chủng Viện Rôma (19/12/2007): AAS 99 (2007), 253-254.

[295] Xem đă dẫn, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 66; AAS 99 (2007), 155-156.

[296] Thông Điệp Cuối Cùng, III, 9.

[297] Đă dẫn.

[298] "Plenaria indulgentia conceditur christifideli qui Sacram Scripturam, iuxta textum a competenti auctoritate adprobatum, cum veneratione divino eloquio debita et ad modum lectionis spiritalis, per dimidiam saltem horam legerit; si per minus tempus id egerit indulgentia erit partialis": apostolic penitentiary, Enchiridion Indulgentiarum. Normae et Concessiones (16/07/1999), 30, §1.

[299] Xem Sách Giáo Lư Của Giáo Hội Công Giáo,1471-1479.

[300] Phaolô VI, Tông hiến Indulgentiarum Doctrina (01/01/1967): AAS 59 (1967), 18-19.

[301] Xem Epistula 49, 3: PL 16, 1204A.

[302] Xem Bộ Thờ Phượng Thiên Chúa và Kỷ Luật Bí Tích, Hướng Dẫn Ḷng Đạo Đức B́nh Dân và Phụng Vụ, Các Nguyên Tắc và Chỉ Dẫn (17/12/2001), 197-202: Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 2638-2643.

[303] Xem Đề Nghị 55.

[304] Xem Gioan Phaolô II, Tông Thư Rosarium Virginis Mariae (16/10/2002): AAS 95 (2003), 5-36.

[305] Đề Nghị 55.

[306] Xem Bộ Thờ Phượng Thiên Chúa và Kỷ Luật Bí Tích, Hướng Dẫn Ḷng Đạo Đức B́nh Dân và Phụng Vụ, Các Nguyên Tắc và Chỉ Dẫn (17/12/2001), 207: Enchiridion Vaticanum 20, Nos. 2656-2657.

[307] Xem Đề Nghị 51.

[308] Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Trong Thánh Lễ Tại Thung Lũng Josaphat, Giêrusalem (12/05/2009): AAS 101 (2009), 473.

[309] Xem Epistola 108, 14: CSEL 55, pp. 324-325.

[310] Adversus Haereses, IV, 20, 7: PG 7, 1037.

[311] Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Spe Salvi (30/11/2007), 31: AAS 99 (2007), 1010.

[312] Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Với Các Đại Biểu Thế Giới Văn Hóa tại "Collège des Bernardins" ở Paris (12/09/2008): AAS 100 (2008), 730.

[313] Xem In Evangelium secundum Matthaeum 17:7: PG 13, 1197B; Thánh Giêrôm, Translatio homiliarum Origenis in Lucam, 36: PL 26, 324-325.

[314] Xem Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Tại Lễ Khai Mạc Cuộc Họp Toàn Thể Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Giám Mục (05/10/2008): AAS 100 (2008), 757.

[315] Đề Nghị 38.

[316] Xem Bộ Các Viện Đời Sống Thánh Hiến và Các Hội Đời Sống Tông Đồ, Huấn thị Khởi Đầu Mới Mẻ Từ Chúa Kitô: Một Dấn Thân Đổi Mới Với Đời Sống Thánh Hiến Trong Thiên Niên Kỷ Thứ Ba (19/05/2002), 36: Enchiridion Vaticanum 21, các số 488-491.

[317] Đề Nghị 30.

[318] Xem Đề Nghị 38.

[319] Xem Đề Nghị 49.

[320] Xem Gioan Phaolô II, Thông Điệp Redemptoris Missio (07/12/1990): AAS 83 (1991), 294-340; Tông Thư Novo Millennio Ineunte (06/01/2001), 40: AAS 93 (2001), 294-295.

[321] Đề Nghị 38.

[322] Xem Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Tại Lễ Khai Mạc Cuộc Họp Toàn Thể Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Giám Mục (05/10/2008): AAS 100 (2008), 753-757.

[323] Đề Nghị 38.

[324] Thông Điệp Cuối Cùng, IV, 12.

[325] Paul VI, Tông Huấn Evangelii Nuntiandi (08/12/1975), 22: AAS 68 (1976), 20.

[326] Xem Công Đồng Vatican II, Tuyên Ngôn Về Tự Do Tôn Giáo Dignitatis Humanae, 2 và 7.

[327] Xem Đề Nghị 39.

[328] Xem Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Gửi Ngày Thế Giới Ḥa B́nh (08/12/2008): Insegnamenti IV, 2 (2008), 792-802.

[329] Tông Huấn Hậu Evangelii Nuntiandi (08/12/1975), 19: AAS 68 (1976), 18.

[330] Xem Đề Nghị 39.

[331] Gioan XXIII, Thông Điệp Pacem in Terris (11/04/1963), 1: AAS 55 (1963), 259.

[332] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Centesimus Annus (01/05/1991), 47: AAS 83 (1991), 851-852; Diễn Văn Với Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc (02/10/1979), 13: AAS 71 (1979), 1152-1153.

[333] Xem Hợp Tuyển Học Thuyết Xă Hội Của Giáo Hội, 152-159.

[334] Xem Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Gửi Ngày Thế Giới Ḥa B́nh Năm 2007 (08/12/2006), 10: Insegnamenti II, 2 (2006), 780.

[335] Xem Đề Nghị 8.

[336] Bênêđíctô XVI, Bài Giảng (25/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 141.

[337] Đă dẫn, Bài Giảng Tại Lễ Khai Mạc Cuộc Họp Toàn Thể Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Giám Mục (05/10/2008): AAS 100 (2008), 779.

[338] Đề Nghị 11.

[339] Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 28: AAS 98 (2006), 240.

[340] De Doctrina Christiana, I, 35, 39 - 36, 40: PL 34, 34.

[341] Xem Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Gửi Ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 21 (22/02/2006): AAS 98 (2006), 282-286.

[342] Xem Đề Nghị 34.

[343] Xem đă dẫn.

[344] Bài Giảng (24/04/2005): AAS 97 (2005), 712.

[345] Xem Đề Nghị 38.

[346] Bênêđíctô XVI, Bài giảng Ngày Thế Giới Bệnh Nhân lần thứ 17 (11/02/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 232.

[347] Xem Đề Nghị 35.

[348] Đề Nghị 11.

[349] Xem Bênêđíctô XVI, Thông Điệp Deus Caritas Est (25/12/2005), 25: AAS 98 (2006), 236-237.

[350] Đề Nghị 11.

[351] Bênêđíctô XVI, Bài giảng (01/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 236-237.

[352] Đề Nghị 54.

[353] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 92: AAS 99 (2007), 176-177.

[354] Gioan Phaolô II, Diễn Văn tại UNESCO (02/06/1980), 6: AAS 72 (1980), 738.

[355] Xem Đề Nghị 41.

[356] Xem đă dẫn.

[357] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Fides et Ratio (14/09/1998), 80: AAS 91 (1999), 67-68.

[358] Xem Sơ Đồ 23.

[359] Xem Đề Nghị 40.

[360] Xem Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Các Phương Tiện Truyền Thông Xă Hội Inter Mirifica; Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xă Hội, Huấn Thị Mục Vụ Communio et Progressio (23/05/1971): AAS 63 (1971), 596-656; Gioan Phaolô II, Tông Thư Phát Triển Mau Chóng (24/01/2005): AAS 97 (2005) 265-274; Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xă Hội, Huấn Thị Mục Vụ Aetatis novae (22/02/1992): AAS 84 (1992), 447-468; Giáo Hội và Liên Mạng (22/02/2002): Enchiridion Vaticanum 21, các số 66-95; Đạo Đức Học Trên Liên Mạng (22/02/2002): Enchiridion Vaticanum 21, các số 96-127.

[361] Xem Thông Điệp Cuối Cùng , IV, 11; Bênêđíctô XVI, Thông Điệp gửi Ngày Thế Giới Truyền Thông Xă Hội Năm 2009 (24/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 123-127.

[362] Xem Đề Nghị 44.

[363] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Gửi Ngày Thế Giới Truyền Thông Lần Thứ 36 (24/01/2002): Insegnamenti XXV, 1 (2002), 94-95.

[364] Xem Tông Huấn Evangelii Nuntiandi (08/12/1975), 20: AAS 68 (1976), 18-19.

[365] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 78: AAS 99 (2007), 165.

[366] Xem Đề Nghị 48.

[367] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum, 13, No. 3112.

[368] Xem Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, 22; Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum, 13, các số 3111-3117.

[369] Gioan Phaolô II, Diễn Văn Với Các Giám Mục Kenya (07/05/1980), 6: AAS 72 (1980), 497.

[370] Xem Tài Liệu Làm Việc, 56.

[371] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3113.

[372] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lư Về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 22.

[373] Xem Đề Nghị 42.

[374] Xem Đề Nghị 43.

[375] Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Lúc Cử Hành Giờ Kinh Ba Ngày Khởi Đầu Phiên Họp Toàn Thể Thượng Hội Đồng Giám Mục (06/10/2008): AAS 100 (2008), 760.

[376] Trong số khá nhiều can thiệp đủ loại, xin xem: Gioan Phaolô II, Thông Điệp Dominum et Vivificantem (18/05/1986): AAS 78 (1986), 809-900; Thông Điệp Redemptoris Missio (07/12/1990): AAS 83 (1991), 249-340; Diễn Văn và Bài Giảng Tại Assisi Ngày 27/10/1986 Ngày Cầu Nguyện Cho Ḥa B́nh: Insegnamenti IX, 2 (1986), 1249-1273; Ngày Cầu Nguyện Cho Ḥa B́nh Thế Giới (24/01/2002): Insegnamenti XXV, 1 (2002), 97-108; Bộ Giáo Lư Đức Tin, Tuyên Ngôn Dominus Iesus Về Tính Duy Nhất Và Cứu Rỗi Phổ Quát của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội (06/08/2000): AAS 92 (2000), 742-765.

[377] Xem Công Đồng Vatican II, Tuyên Ngôn về Liên Hệ của Giáo Hội với Các Tôn Giáo Không Phải là Kitô Giáo Nostra Aetate, 3.

[378] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Với Các Đại Sứ Các Quốc Gia Phần Lớn Là Hồi Giáo Bên Cạnh Ṭa Thánh (25/09/2006): AAS 98 (2006), 704-706.

[379] Xem Đề Nghị 53.

[380] Xem Đề Nghị 50.

[381] Đă dẫn

[382] Gioan Phaolô II, Diễn Văn Tại Cuộc Gặp Gỡ Người Trẻ Hồi Giáo tại Casablanca, Morocco (19/08/1985), 5: AAS 78 (1986), 99.
Vũ Văn An