Mẹ Têrêsa, vị tông đồ hoan lạc


Ngay lúc sinh thời, Mẹ Têrêsa đă được nhiều người coi như một vị thánh sống v́ đă tận tuỵ hiến dâng cuộc đời cho những kẻ bần cùng và những người bị bỏ rơi trên khắp thế giới. Nhưng hôm 19 tháng 10 này, ngày Khánh nhật Truyền giáo, khi Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong chân phước cho Mẹ th́ thực thụ Mẹ đă một bước gần hơn tiến tới bậc hiển thánh.

Theo linh mục Bian Kolodiejchuk, là cáo thỉnh viên vụ tuyên thánh, Mẹ Têrêsa không chỉ là biểu tượng của một tấm ḷng từ bi nhân hậu và một vị nữ tu hoạt động xă hội, mà c̣n hơn thế nữa. Sau đây là tŕnh thuật của cha Brian - các nữ tu ḍng Thừa sai Bác Ai thường gọi tên cha vắn tắt như thế - ngài sinh tại Winnipeg (tỉnh bang Manitoba, Canada) năm 1956 và gặp Mẹ Têrêsa năm 1977.

Chiều sâu của ḷng phục vụ đầy yêu thương của Mẹ đă được khám phá trong suốt tiến tŕnh tuyên thánh khởi đầu từ năm 1999, chỉ hai năm sau ngày Mẹ qua đời ở tuổi 87. Suốt cuộc đời, Mẹ Têrêsa đă rất kín đáo không đề cập tới những tranh đấu nội tâm cũng như nhiệt tâm thúc đẩy thành lập Tu hội Thừa Sai Bác Ái.

Trưởng thành về nhân đức

Cha Brian nói: Trong lúc điều tra về cuộc đời Mẹ Têrêsa tôi đă khám phá ra ngay lúc c̣n là nữ tu ḍng Loreto dạy học tại Calcutta Mẹ đă trưỡng thành trong cuộc sống tâm linh. Năm 1948, lúc 40 tuổi Mẹ rời bỏ ḍng tu Loreto sau khi tu tập đă 20 năm trời và cho rằng lúc ra đi Mẹ thấy khó khăn c̣n hơn cả lúc rời gia đ́nh nữa. Ngay từ năm 1942 Mẹ Têrêsa đă long trọng nhưng âm thầm khấn hứa là sẽ không từ chối Chúa bất cứ điều ǵ. Đó là một bước quan trọng trong sự phát triển đời sống đạo đức. Coi ḿnh như là người hiền thê của Chúa Giêsu, Mẹ Têrêsa đă “bừng cháy một niềm yêu mến Người như chưa từng yêu Người như thế”, Mẹ đă thuật lại câu đó. Và Mẹ muốn “làm điều ǵ thật tốt đẹp cho Chúa”.

Khoảng năm 1946-1947 Mẹ Têrêsa đă đạt tới giai đoạn quan trọng trong tiến tŕnh tăng tiến về nhân đức. Mẹ đă có những đàm thoại nội tâm với Chúa Giêsu và Chúa đă yêu cầu Mẹ thiết lập một nhóm người mới để phục vụ những người bần cùng nhất, theo lời Mẹ, là “để thỏa măn ḷng Chúa khát khao t́nh yêu và các linh hồn”.

Mặc dầu Mẹ cảm thấy không xứng đáng với trách nhiệm lập tu hội, Mẹ nghe tiếng Chúa thách thức: “Con sợ là con sẽ mất ơn gọi, sẽ trở thành người thế tục, sẽ bị đ̣i hỏi phải kiên tŕ nhẫn nại. Này con, ơn gọi của con là yêu mến, là chịu khổ đau và cứu rỗi các linh hồn, và theo đường bước đó con sẽ thỏa măn nỗi khát khao của trái tim Cha đối với con“. Đă nhiều lần Mẹ nghe Chúa Giêsu hỏi Mẹ có từ chối lời Người yêu cầu không. Và Mẹ đă không từ chối Người.

Gương mẫu cuộc sống thánh thiện

Bằng một tấm ḷng nao nức, Mẹ bắt đầu công tác mới phục vụ những kẻ cùng khổ nhất ở An độ. Mẹ t́m thấy tấm gương khuôn mẫu nơi chị Frances Xivier Cabrini (1850-1917) một nữ tu người Ư đă phục vụ tại Mỹ. Mẹ Têrêsa viết: “Tôi đọc sách thuật về cuộc đời của thánh Cabrini, thấy rằng người đă phục vụ hết ḿnh cho người Mỹ v́ người đă hoà ḿnh làm một người Mỹ như họ. Tại sao tôi lại không làm được ở An như thánh nhân đă làm ở Mỹ?”

Giai đoạn cuối cùng trong sự tăng tiến về nhân đức của Mẹ đă tới khi Mẹ bắt tay vào công tác mới. Mẹ khổ sở v́ điều Mẹ gọi là “Bóng tối”: Mẹ mong mỏi được Chúa, nhưng cảm thấy hụt mất Người.

Mẹ thú nhận: “Tôi càng mong mỏi Chúa tôi càng cảm thấy Người ít cần tôi”. Nhưng Mẹ vẫn kiên tŕ trong lời đă khấn hứa với Người và trung thành với kỷ luật tự đặt ra cho ḿnh, chẳng hạn ngày nào cũng thức dậy vào 4g40 sáng để có mặt đầu tiên tại nhà nguyện. “Bóng tối” đă trở thành người bạn đồng hành với Mẹ. Mẹ hàng phục Chúa Giêsu bằng một đức tin thuần khiết nhưng mù quáng, tự coi ḿnh như “cây viết ch́ trong tay Người”

Mẹ là chứng nhân mạnh mẽ cho điều mà nhiều người gọi là “đêm đen bao phủ tâm hồn”. Mẹ đă có lần viết: “Tôi tự hỏi khi mà trong nội tâm tôi chẳng có ǵ hết th́ Chúa lấy ǵ mà nhận đây?” Trong một bức thư viết cho Tổng Giám m ục Calcutta là Ferdinand Perier, Mẹ viết: “Linh hồn con có thật nhiều mâu thuẫn: con mong muốn Chúa thật sâu xa đến nỗi đau khổ triền miên, nhưng lại thấy Chúa chẳng muốn ǵ con, thấy bị ruồng bỏ, trống vắng, không niềm tin, không t́nh yêu, không nhiệt t́nh. Các linh hồn không c̣n là điều làm con hấp dẫn. Thiên đường không c̣n ư nghĩa, con chỉ thấy như là một nơi trống vắng. Vậy mà con lại bị hành hạ v́ ḷng mong muốn yêu mến Chúa. Xin cầu nguyện để con vẫn mỉm cười với Người bất chấp những chuyện đó.”

Mẹ coi điều khổ sở nhất là nỗi khổ của những người không được yêu mến, không được chăm sóc, không được ai cần, những người nghèo nàn tâm linh mà chính Mẹ đă trải qua trong mối liên lạc với Chúa Giêsu.

Rạng rỡ niềm vui

Mẹ đă dự phần vào cuộc khổ nạn của Chúa, vào cảm giác bị bỏ rơi nơi vườn Cây dầu và trên thập giá. Chính sự chia sẻ khổ đau đó với Chúa đă kéo người ta đến với Mẹ. Và nỗi khổ đau tiếp tục theo Mẹ đến cuối cuộc đời.

Tuy nhiên thay v́ bám chặt lấy nỗi cô đơn của ḿnh, Mẹ đă trở thành vị tông đồ của niềm vui. Bất chấp nỗi đau khổ của chính ḿnh, Mẹ đă lúc nào cũng làm rạng rỡ niềm vui cho những người chung quanh, đó là minh chứng hùng hồn đức tin sâu xa của Mẹ.

Cha Brian đă thấy có mối liên hệ giữa sự tăng tiến nhân đức của Mẹ với công việc xă hội và cách thức Mẹ thực hiện: Nhiều người đă hỏi tại sao Mẹ không lập một nhà thương to lớn và tân tiến tại Calcutta mà lại làm Nhà Cho Người Hấp Hối. Nhưng Mẹ đă muốn mọi công tác phải đuợc thực hiện trên căn bản cá nhân, cho từng người, để thể hiện t́nh Chúa yêu thương, từ bi và hiện diện, như lời chứng của một bệnh nhân: “Tôi đă sống như một con vật nhưng với Mẹ Têrêsa tôi đang chết như một thiên thần.”

Cần phải có một phép lạ trước mới được tuyên thánh. Mẹ Têrêsa đă làm đuợc phép lạ nào?

Đó là vụ chữa lành năm 1998 cho một phụ nữ An tên Monika Besra, bị sưng một bướu lớn nơi bụng. Sự chữa lành mau chóng đă hội đủ các điều kiện đ̣i hỏi của một phép lạ là phải tức thời, hoàn toàn, vĩnh viễn và không giải thích được bằng khoa học. Monika khoảng chừng hơn 30 tuổi và có 5 đứa con. Bà sẽ tham dự lễ phong chân phước Mẹ Têrêsa.

Christopher Hitchins đă viết một cuốn sách chỉ trích Mẹ Têrêsa v́ đă liên lạc với các nhà lănh đạo thối nát như Fidel Castro và Ferdinand Marcos vị tổng thống Phi luật tân đă bị dân chúng bắt lưu vong, và v́ Mẹ được chữa trị bằng các phương tiện tốn kém mà những người Mẹ phục vụ không được hưởng. Cha Brian trả lời rằng: Mẹ đă phải vâng lời các giám mục v́ các ngài yêu cầu cho Mẹ được chữa trị tại các nhà thương tốt như ở Tijuana. Phải nhiều cố gắng cam go mới giữ được Mẹ ở trên giường bệnh viện v́ Mẹ vẫn mong muốn đuợc chết trên chính chiếc giường của ḿnh chung quanh là các chị em của tu hội. Và Mẹ đă qua đời như vậy.

Vâng phục ư Chúa

Giáo Hội Chúa sẽ phong phú hơn khi Mẹ Têrêsa đuợc tôn phong hiển thánh. Cha Brian cho biết làm nhiệm vụ cáo thỉnh viên là một kinh nghiệm tốt đẹp cho ngài.

“Ngoài việc khám phá ra khía cạnh huyền nhiệm nơi Mẹ Têrêsa, tôi c̣n cảm nhận sâu xa đuợc sự kiện “các thánh cùng thông công” nữa. Lúc này tôi cám ơn nhiều hơn t́nh thương đích thực và sâu xa của các vị thánh trên thiên đường đối với chúng ta và thấy các ngài có thể trở thành bạn đồng hành và bằng hữu của chúng ta. Mẹ Têrêsa chẳng hạn, khi c̣n sống ta khó mà tiếp xúc được với người bằng điện thoại, và ngay cả khi được người trả lời th́ câu chuyện cũng vắn tắt lắm v́ người không ưa nói chuyện lâu bằng điện thoại. Thế nhưng bây giờ th́ tôi có cảm giác rằng người sẵn sàng ở đó 24 giờ một ngày và 7 ngày một tuần.

Và mặc dầu Mẹ Têrêsa đang trên đường tiến tŕnh trở thành một vị thánh, cha Brian nói Mẹ cũng đă có những yếu đuối của con người. Mẹ cũng đă có lúc tức bực, chẳng hạn khi có lầm lẫn trong việc sắp xếp buổi nói chuyện của Mẹ tại một giáo xứ ở Roma khiến giáo dân phải chờ đợi, Mẹ đă rầy la chị nữ tu có trách nhiệm nhưng sau đó, theo thói quen của Mẹ, Mẹ đă xin lỗi bằng một cử chỉ thân thiện.

Một chuyện nữa là Mẹ rất thích carem. Tại nhà ḍng chính ở Calcutta, v́ có đông các nữ tu nên theo lệ là mỗi năm chỉ có carem hai hoặc ba lần. Nhưng nếu có ai đưa carem cho Mẹ th́ Mẹ nhận liền. Cha Brian nói khi song thân cha tới thăm Mẹ thường có đem theo một số bánh ngọt. Mẹ Têrêsa tiếp nhận bánh ngọt đó với tâm t́nh cũng như khi nhận một món ăn cháy khét, như cả hai đều do Chúa ban. Đó là cách thức Mẹ vâng theo ư Chúa.

(viết thaeo Desmond O’Grady)
Phạm Hoàng Nghị
Vietcatholic.net