THÁNH PHAOLÔ, NHÀ TRUYỀN GIÁO THỜI DANH CỦA GIÁO HỘI KITÔ TIÊN KHỞI  

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Kho tàng tư tưởng thần học sâu sắc trong các thư của thánh Phaolô có thể khiến cho nhiều người tưởng lầm thánh nhân là một nhà trí thức chuyên nghiệp hay một tư tưởng gia cổ điển. Thực ra không phải như vậy. Trước tiên Phaolô đă là một người hoạt động. Dĩ nhiên, thánh nhân đă viết nhiều và soạn thảo ra cả một thiên chú giải sâu sắc về ḷng tin kitô. Nhưng sinh hoạt thư tín của ngài đi liền với cuộc đời truyền bá Tin Mừng cho các cộng đoàn tại Tiểu Á và châu Âu, bôn ba nay đây mai đó. Nói cách khác, Phaolô là một nhà truyền giáo đă dùng thư từ của ḿnh như phương tiện thông truyền, phổ biến và củng cố ḷng tin. Ngoài ra cũng nên ghi nhận sự kiện thánh nhân không phải là nhà truyền giáo duy nhất của Giáo Hội thời khai sinh, v́ c̣n có nhiều vị khác nữa như Phêrô và Barnaba. Tuy nhiên, chúng ta có thể coi Phaolô như là tông đồ đă sáng suốt bảo vệ lập trường rộng

mở Giáo Hội cho thế giới ngoài Do thái giáo. Có thể chia sinh hoạt truyền giáo của Phaolô thành ba giai đoạn chính. Giai đoạn thứ nhất khá tối tăm, bắt đầu từ lúc hoán cải cho tới lúc gia nhập cộng đoàn Antiokia bên Siria. Giai đoạn thứ hai bao gồm các hoạt động rao giảng Tin Mừng tại Antiokia, cứ điểm truyền giáo đầu tiên, nơi Phaolô đă trở thành nhân vật nổi bật, và sau đó được cộng đoàn đề cử đem Tin Mừng tới cho các anh chị em ngoài Do thái giáo. Giai đoạn thứ ba là giai đoạn truyền giáo độc lập. Phaolô bôn ba ngang dọc, giảng đạo trong vùng Tiểu Á và bên Hy Lạp, thành lập nhiều cộng đoàn kitô đia phương. Đặc biệt trong giai đoạn này Phaolô trở thành một nhân vật rất có uy tín trong các giáo đoàn nói tiếng hy lạp, và hoàn toàn độc lập đối với truyền thống văn hóa và tôn giáo do thái.

Chúng ta có ít tin tức liên quan tới giai đoạn truyền giáo thứ nhất. Chương 9 sách Tông Đồ Công Vụ cho biết sau cuộc gặp gỡ đổi đời với Chúa Kitô phục sinh trên đường tới Damasco, Phaolô bị mù mắt và được các người đồng hành dẫn vào thành. Chúa Kitô sai Anania, một Kitô hữu của cộng đoàn Kitô Damasco, tới gặp Phaolô để đặt tay cho ông sáng mắt. Phaolô được tràn đầy Chúa Thánh Thần và lănh nhận phép rửa tội, rồi lưu lại với các kitô hữu Damasco vài ngày. Sau đó Phaolô bắt đầu công khai rao giảng Chúa Kitô phục sinh trong các hội đường do thái tại Damasco và vùng đông nam Damasco (Gal 1,17). Phaolô trưng dẫn các lư chứng vững vàng cho thấy Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, khiến cho người Do thái tức giận lập mưu hạ sát ông. Họ cho người canh giữ cửa thành nghiêm ngặt. Nhưng đang đêm các kitô hữu có nhà xây trên tường thành giúp Phaolô trốn thoát, bằng cách bỏ Phaolô vào thúng và tḥng xuống bên ngoài tường thành. Sau này thánh nhân cũng nhắc lại các chống đối gặp phải và lần chết hụt thứ nhất này trong chương 11,32-33 thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô.

Từ Damasco Phaolô về Giêrusalem và lưu lại đây một thời gian ngắn để làm quen với Kêpha, tức Phêrô, rồi sau đó sang Siria và Cilicia, miền nam Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, như thánh nhân viết trong thư gửi tín hữu Galát (1,21). Vài nét chấm phá ấy tóm gọn các sinh hoạt của 15 năm trời kể từ biến cố bị đánh ngă trên đường đi Damasco. Sách Tông đồ Công Vụ cũng không thêm chi tiết nào mới mẻ. Tuy nhiên cả hai tài liệu đều cho biết Phaolô đă gặp khó khăn trong cố gắng làm quen và sát nhập vào cộng đoàn. Kitô hữu Giêrusalem chẳng những không quen biết Phaolô mà c̣n tỏ ra nghi ngờ đối với ông (Gl 1,22; Cv 9,26-30). Qua đó chúng ta có thể kết luận rằng Phaolô đă không gặt hái nhiều thành công trong thời gian hoạt động này.

Giai đoạn truyền giáo thứ hai có nhiều tin tức hơn. Chương 11 sách Công Vụ cho biết Barnaba, là nhân vật nổi bật của Kitô giáo thời khai sinh, đă giới thiệu Phaolô với giáo đoàn Antiokia bên Siria (Cv 11,25). Antiokia là thủ phủ của vùng này và là thành phố lớn vào hàng thứ ba của Đế quốc Roma thời đó, nghĩa là chỉ sau Roma và Alessandria bên Ai Cập. Trong lịch sử Giáo Hội và lịch sử truyền giáo, Antiokia có địa vị quan trọng và ư nghĩa, v́ là cứ điểm truyền giáo rộng lớn đầu tiên, nơi các môn đệ chọn làm bản doanh cho công tác rao truyền Tin Mừng cho dân ngoại (Cv 11,19 tt.), và cũng là nơi lần đầu tiên các môn đệ Chúa Giêsu được gọi là kitô hữu (Cv 11,26). Giáo đoàn Antiokia là giáo đoàn hỗn hợp gồm các kitô hữu gốc do thái và không do thái. Phaolô đă hoạt động tại đây trong ṿng một năm (Cv 11,26), và được giáo đoàn sai phái cùng với Barnaba đi truyền giáo tại đảo Chypre và các vùng đông nam của Tiểu Á, như tŕnh thuật trong hai chương 13-14 sách Công Vụ. Qua chương 2 thư gửi tín hữu Galát chúng ta biết được rằng Phaolô cộng tác với Barnaba, là thành phần của cộng đoàn Kitô Antiokia và gặt hái thành qủa tốt trong công tác rao truyền Tin Mừng cho các anh chị em ngoài do thái giáo. 

Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau nảy sinh ra một vấn nạn trầm trọng liên quan tới việc gia nhập đạo của các người ngoài Do thái giáo. Để trở thành kitô hữu họ phải theo các điều kiện nào: chấp nhận tin vào Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài là đủ, hay phải tuân giữ luật cắt b́ của Do thái giáo nữa? Phaolô không phải là người đầu tiên khai mào công tác truyền giáo trong thế giới không do thái. Trước ông đă có một nhóm các kitô hữu gốc do thái nói tiếng hy lạp rao giảng Tin Mừng và thành lập cộng đoàn Antiokia. Nhưng khi từ một thói quen mục vụ truyền giáo bước sang việc thảo luận trên b́nh diện thần học, tức liên quan tới nguyên tắc do nhóm bảo thủ gồm các Kitô hữu gốc do thái đặt ra, Phaolô đă tỏ ra là người có hành động sáng suốt và trung thực nhất theo tinh thần Tin Mừng giải phóng của Chúa Kitô. Phaolô bênh vực sự tự do của các anh chị em ngoài do thái đối với luật lệ của Do thái giáo, mà các Kitô hữu gốc do thái vẫn tuân giữ. Cuộc tranh luận đă sôi nổi tới độ giới lănh đạo Giáo Hội đă phải triệu tập hội nghị tại Giêrusalem để thảo luận và nghiên cứu vấn đề, như tŕnh thuật trong chương 15 sách Công Vụ, và trong chương 2 thư gửi tín hữu Galát. Hội nghị Giêrusalem đă là Công Đồng Chung đầu tiên trong lịch sử Kitô giáo. Barnaba và Phaolô cùng với hai nhân vật khác của giáo đoàn Antiokia đại diện cho phe cởi mở của cộng đoàn này tham dự Công Đồng. Sau khi nghe Barnaba và Phaolô tŕnh bày và thảo luận phải trái trong Công Cồng, giới lănh đạo Giáo Hội Kitô tiên khởi đă chấp nhận nguyên tắc tự do của các kitô hữu ngoài do thái. Hàng lănh đạo cộng đoàn kitô Giêrusalem thỏa thuận với phái đoàn đại diện giáo đoàn Antiokia, và phân chia công tác truyền giáo. Trong chương 2,9 thư gửi tín hữu Galát, thánh Phaolô viết: ”...sau khi thừa nhận đặc sủng mà Thiên Chúa đă trao phó cho tôi, Giacôbê, Kêpha và Gioan đă giơ tay phải bắt tay tôi tỏ t́nh liên đới để chúng tôi đi truyền giáo cho dân ngoại c̣n họ đi truyền giáo cho các anh chị em được cắt b́”, tức tín hữu Do thái. Trong thư thánh Phaolô nêu bật rằng Công Đồng đă không áp đặt trên thánh nhân một điều lệ hạn chế nào. Trong khi tŕnh thuật sách Công Vụ lại gắn liền với Công Đồng Giêrusalem việc ban bố một sắc lệnh liên quan tới việc hạn chế sự tự do của tín hữu không phải gốc do thái, như kiêng thịt đă cúng tế cho các thần linh, kiêng máu, kiêng thịt của các súc vật bị chết ngạt và xa lánh tà dâm (Cv 15,29).

Tuy nhiên, sắc lệnh hay bức thư do một phái đoàn được giới lănh đạo Giáo Hội Giêrusalem cử đem sang cho tín hữu Antiokia nói trên, là một dữ kiện gây tranh luận trong giới học giả Kinh Thánh. Sắc lệnh đă là một giàn xếp đạt được trong Công Đồng Chung Giêrusalem giữa hai phe tự do và bảo thủ, hay là một tài liệu có nguồn gốc khác, không liên quan ǵ tới quyết định của Công Đồng? Nếu là quyết nghị của Công Đồng, tại sao thánh Phaolô đă lại không bao giờ nói tới trong các thư, khi tŕnh thuật biến cố quan trọng này của Giáo Hội kitô tiên khởi? Thánh nhân đă không biết tới tài liệu này hay đă phản đối không chấp nhận nó? Rất tiếc là chúng ta không có các dữ kiện giúp đưa ra câu trả lời chắc chắn cho khúc mắc này. Dẫu thế nào đi nữa, Công Đồng Chung triệu tập tại Giêrusalem giữa các năm 48-49 đă đánh dấu một khúc rẽ quan trọng trong lịch sử Kitô giáo. Một đàng, nó phản ánh vấn đề mục vụ truyền giáo liên quan tới việc hội nhập văn hóa, mà Giáo hội phải can đảm thảo luận và giải quyết. Đàng khác, nó đánh dấu biến cố Kitô giáo hoàn toàn được giải thoát khỏi t́nh trạng bị ràng buộc và điều kiện hóa bởi gia tài văn hóa và tôn giáo do thái. Nhưng câu chuyện đă không kết thúc một cách đơn sơ như vậy. Thật thế, phe bảo thủ qúa khích trong Giáo Hội kitô tiên khởi đă không chấp nhận quyết nghị của Công Đồng. Ngoài ra, c̣n có một vài khía cạnh vẫn chưa được giải quyết như: làm thế nào để duy tŕ sự sống chung ḥa b́nh giữa các kitô hữu gốc do thái và các kitô hữu không phải gốc do thái trong cùng một cộng đoàn, như cộng đoàn Antiokia? Và qủa vậy, chẳng bao lâu sau lại xảy ra tranh luận và căng thẳng trong cộng đoàn Antiokia. Lần này Phaolô công khai xung đột với Phêrô, như thánh nhân kể lại trong chương 2 thư gửi tín hữu Galát. Trong lần tới thăm cộng đoàn Antiokia cùng với một vài Kitô hữu bảo thủ Giêrusalem do Giacôbê phái đi, Phêrô đă sống phản chứng. Ban đầu ông lui tới thăm viếng và ăn uống rất tự nhiên với các kitô hữu không phải gốc do thái trong cộng đoàn. Nhưng sau đó bị nhóm bảo thủ Giêrusalem nói trên gây áp lực, Phêrô tránh không gặp và ăn uống với các kitô hữu không do thái nữa. Barnaba và các kitô hữu gốc do thái khác cũng lây thái độ phản chứng này của Phêrô. Và Phaolô đă không ngần ngại công khai nặng lời quở trách Phêrô giữa toàn cộng đoàn. Phaolô tố cáo Phêrô là đă phản lại quyết nghị của Công Đồng và đặt lại vấn đề nguyên tắc tự do của các anh chị em không do thái theo Kitô giáo. Thư gửi tín hữu Galát không cho chúng ta biết câu chuyện đă kết thúc ra sao. Nhưng khi so sánh với giọng kể chiến thắng của tŕnh thuật Công Đồng Giêrusalem, chúng ta có thể đoán được rằng lần này tại Antiokia Phaolô đă không thắng thế trong cuộc tranh luận. Có điều chắc chắn là sau vụ đụng độ công khai ấy, Phaolô tách rời, không đi truyền giáo với Barnaba nữa, mà hoạt động một cách độc lập với giáo đoàn Antiokia. Phaolô trở thành tông đồ của Chúa Kitô, và không phải tường tŕnh với ai về công tác truyền giáo của ḿnh, như thánh nhân viết trong chương 4,4 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô.