GƯƠNG MẶT XĂ HỘI CỦA CÁC CỘNG ĐOÀN KITÔ TIÊN KHỞI

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Qua các thư của thánh Phaolô chúng ta biết được nhiều dữ kiện trong chiến thuật truyền giáo của thánh nhân. Chẳng hạn như chọn các thành phố làm căn cứ rao giảng Tin Mừng, thành lập các cộng đoàn và trung tâm hoạt động, để từ đó đi truyền giáo cho các vùng chung quanh. Nhưng liên quan tới gương mặt của các cộng đoàn này như: số tín hữu được bao nhiêu, họ thuộc các thành phần xă hội nào, cộng đoàn có các cơ cấu ra sao, tín hữu đă tham dự vào cuộc sống và sinh hoạt của thành phố như thế nào, chúng ta chỉ có được một ít tin tức vụn vặt và gián tiếp. Thật ra các thư của thánh Phaolô chỉ chú ư tới các vấn đề ḷng tin và cuộc sống kitô, chứ không nhằm miêu tả cơ cấu xă hội của cộng đoàn. Sách Tông Đồ Công Vụ lại càng cung cấp cho chúng ta ít tin tức hơn về khía cạnh này, nếu không nói là không có ǵ.

Tuy nhiên, qua một vài nét chấm phá thu lượm được trong các thư của thánh Phaolô người đọc cũng có thể h́nh dung ra phần nào gương mặt của cộng đoàn kitô tiên khởi. Trước hết nó là loại cộng đoàn ”tại gia”, bởi v́ thánh Phaolô cho biết các tín hữu tụ tập nhau trong nhà của một người để cử hành nghi thức bẻ bánh tức bí tích Thánh Thể, cầu nguyện chung với nhau và nghe giảng dậy. Trong chương 16 thư gửi tín hữu Roma, thánh nhân gửi gắm nữ phó tế Phêbê cho cộng đoàn và xin họ giúp bà trong mọi việc, v́ bà đă là ân nhân của nhiều tín hữu và của chính thánh nhân. Phaolô cũng gửi lời chào thăm mọi cộng sự viên của ngài, đặc biệt là Prisca và Aquila, và giáo đoàn tụ họp trong nhà của hai người. Trong chương 16,19 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô cũng chuyển lời chào của các giáo đoàn Tiểu Á và giáo đoàn Roma tụ họp tại nhà Prisca và Aquila tới họ. Trong thư viết cho Philêmôn từ trong ngục, Phaolô cũng gửi lời chào giáo đoàn tụ họp tại nhà ông (Plm 2). Sở dĩ các kitô hữu tiên khởi đă phải tụ tập nhau tại nhà một người, v́ sau khi xảy ra biến cố đoạn tuyệt giữa Do thái giáo và Kitô giáo, các kitô hữu bị khai trừ khỏi hội đường do thái nên không có chỗ để hội họp và cầu nguyện nữa. Nếu nhà của một tín hữu đă đủ chỗ để đón tiếp các tín hữu, th́ chúng ta có thể kết luận rằng các cộng đoàn Kitô tiên khởi đă chỉ là các nhóm nhỏ, nghĩa là một thứ ”giáo hội tại gia” thực sự.

Liên quan tới các thành phần cấu tạo Giáo Hội, bài viết về cộng đoàn Côrintô của học giả G. Theissen giúp chúng ta có một khái niệm đại cương. (Soziale Schichtung in der korinthischen Gemeinde. Ein Beitrag zur Soziologie des hellenistischen Urchristentum, ZNW 65 (1974) 232-272). Cộng đoàn Côrintô gồm hai thành phấn tín hữu: một số ít các anh chị em giầu, khá giả, và đa số c̣n lại là người nghèo. Chính thánh Phaolô cho chúng ta biết điều này khi viết trong chương 1 thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô: ”Anh chị em hăy suy tư về ơn gọi của anh chị em. Trong anh chị em không có nhiều người thông thái, và trên b́nh diện nhân loại, không có nhiều người quyền thế, cũng không có nhiều người thuộc hàng qúy tộc” (1 Cr 1,26). Trong cùng thư ở chương 7 thánh nhân cho biết trong số các tín hữu có nhiều người là nô lệ. Và ngài khuyên mọi người cố gắng sống xứng đáng theo địa vị của ḿnh. Điều quan trọng duy nhất là mỗi người hăy tuân giữ giới răn của Chúa, c̣n chuyện là tín hữu do thái đă chịu cắt b́ hay là người không do thái không cắt b́, điều đó không quan trọng. Ai ở địa v́ nào lúc được Chúa kêu gọi, th́ cứ ở nguyên địa vị ấy. Bạn được Chúa gọi vào đạo khi c̣n là nô lệ ư? Đừng lo! Trái lại, ngay cả khi bạn có thể trở thành người tự do đi nữa, hăy tận dụng điều kiện là nô lệ của ḿnh. Bởi kẻ đang làm nô lệ mà được Chúa gọi tức là được Chúa giải phóng. C̣n kẻ đang ở địa vị tự do mà được Chúa gọi vào đạo, th́ phải coi ḿnh là nô lệ của Chúa Kitô. Chúa Kitô đă chuộc anh chị em bằng gía rất cao, v́ thế đừng làm nô lệ người đời (1 Cr 7,17-24). Danh sách Kitô hữu như viết trong chương 16 thư gửi giáo đoàn Roma cũng cho thấy nhiều kitô hữu hồi đó là các anh chị em nô lệ. Nói chung đa số tín hữu của Giáo Hội tiên khởi thuộc lớp người b́nh dân trong xă hội. Điều này cũng dễ hiểu, v́ Tin Mừng của Chúa Giêsu là Tin Mừng yêu thương và công bằng. Trước mặt Chúa mọi người đều là con cái, có cùng phẩm gía là h́nh ảnh của Chúa, do đó đều được trân trọng và qúy mến như nhau. Và đó qủa thật là Tin Mừng giải phóng đối với các anh chị em thuộc các giai tầng thấp kém, bị khinh miệt và gánh chịu nhiều thiệt tḥi hơn trong xă hội loài người.

Một số tin tức khác cho chúng ta biết cơ cấu nội bộ của các cộng đoàn kitô tiên khởi. Trong chương 5 thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica thánh Phaolô cho thấy trong cộng đoàn có một số vị lănh đạo. Thánh nhân khuyên tín hữu trọng kính và hết sức qúy mến các người đă từng khó nhọc v́ họ, hướng dẫn và dậy bảo họ trong con đường theo Chúa, cũng như lo lắng làm mọi việc v́ họ. Tiếp đến thánh nhân khuyên mọi người hăy biết răn bảo kẻ lười biếng, an ủi người nhát sợ, nâng đỡ người yếu đuối và nhịn nhục mọi người, cũng như biết cẩn thận, không lấy ác báo ác, không trả thù kẻ khác, nhưng luôn luôn xây dựng và làm điều thiện cho nhau, luôn luôn vui vẻ, liên lỉ cầu nguyện và cảm tạ Thiên Chúa trong mọi lúc. Và đặc biệt thánh nhân khuyên mọi người đừng dập tắt Chúa Thánh Thần, đừng khinh chê lời các ngôn sứ, nhưng hăy biết xem xét mọi sự, giữ lấy điều tốt và xa lánh điều xấu (1 Tx 5,12-22).

Trong chương 12,28 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô thánh Phaolô kê khai danh sách các đặc sủng Chúa ban cho tín hữu, trong đó có đặc sủng cai quản ”kybernêsis”. Các tông đồ đứng đầu, rồi tới các ngôn sứ, tiếp theo là các tiến sĩ, rồi các người làm được phép lạ, các người chữa được bệnh tật, sau đó là các người trợ giúp, các người quản lư, các kẻ nói được nhiều thứ tiếng và giải nghĩa các thứ tiếng ấy. Và mỗi người phải dùng đặc sủng Chúa ban riêng cho ḿnh để phục vụ toàn cộng đoàn. Trong cộng đoàn Philiphê th́ có các giám mục và các phó tế phục vụ. Trong chương 1,1 thư gửi tín hữu cộng đoàn này thánh Phaolô gửi lời chào tín hữu trước rồi mới tới các giám mục và các phó tế của Đức Kitô. Chương 16 thư gửi tín hữu Roma c̣n cho biết có một nữ phó tế là bà Phêbê, thuộc giáo đoàn Cencre, là hải cảng miền đông thành Côrintô (Rm 16,1).

Ngoài ra trong các thư thánh Phaolô cũng nhắc tên các cộng sự viên nam nữ đă cùng ngài ”đồng lao cộng khổ” trong công tác rao truyền Tin Mừng của Chúa. Chẳng hạn như bà Stêphania và gia đ́nh của bà (1 Cr 16,15-16), ông Philiphê Epafrodite (Pl 2,25), các cặp vợ chồng Prisca và Aquila (Rm 16,3-4) Andronico và Giunia (Rm 16,7), các phụ nữ khác như Maria, Trifena và Trifosa (Rm 16,6.12). Cứ theo đó chúng ta có thể nhận thấy công việc tổ chức các giáo đoàn do thánh Phaolô thành lập có tính cách rất tự do và dân chủ, nghĩa là có sự tham gia tích cực của mọi kitô hữu, không phân biệt tuổi tác và phái tính. Ai được Chúa Thánh Thần ban cho đặc sủng ǵ th́ dùng chính đặc sủng ấy để phục vụ và vun trồng cộng đoàn. Cũng chính v́ thế sau khi bàn về các ơn Chúa ban, thánh Phaolô viết trong chương 14 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô: ”Như vậy th́ phải làm ǵ thưa anh chị em? Khi anh chị em hội họp, th́ mỗi người có thể hát một bài thánh ca, mang tới một giáo huấn hay một mạc khải, nói các thứ tiếng hay giải thích: nhưng hăy làm mọi sự trong mục đích xây dựng cộng đoàn” (1 Cr 14,26). Tuy nhiên có điều chắc chắn là chính thánh Phaolô hướng dẫn các sinh hoạt của cộng đoàn.

Các phụ nữ cũng không bị loại trừ khỏi các sinh hoạt của cộng đoàn, bởi v́ thánh Phaolô công nhận quyền của mọi tín hữu được phát biểu trong các buổi hội họp. Nếu thánh nhân có khuyên chị em phụ nữ đội khăn che đầu khi tham dự các buổi hội họp, như viết trong chương 11 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, th́ đó là tập tục của các dân tộc địa phương, chứ không phải do thánh nhân hay Giáo Hội áp đặt. Văn bản chương 14,33-35 thư thứ nhất gửi Côrintô ghi lại lập trường cấm phụ nữ phát biểu viết: ”Như thói quen trong mọi cộng đoàn các thánh, phụ nữ phải làm thinh trong buổi hội họp, v́ họ không được phép lên tiếng; trái lại, họ phải sống phục tùng như chính Lề Luật dậy. Nếu họ muốn t́m hiểu điều ǵ, th́ cứ về nhà hỏi chồng, bởi v́ phụ nữ mà lên tiếng trong cộng đoàn th́ không c̣n thể thống ǵ”. Xem ra thánh Phaolô kỳ thị nữ giới, nhưng có lẽ văn bản phải được hiểu trong bối cảnh của nền văn hóa phụ hệ, trong đó nữ giới không có tiếng nói, cũng như trong bối cảnh cộng đoàn bấy giờ dễ xảy ra các hỗn loạn trong các buổi hội họp với các người nói tiếng lạ, nói tiên tri và ơn mặc khải. Thật thế, thánh Thaolô viết: ”Ngôn sứ th́ làm chủ những cảm hứng tiên tri của ḿnh, bởi v́ thiên Chúa không phải là Thiên Chúa gây hỗn loạn, nhưng là Thiên Chúa tạo b́nh an” (1 Cr 14,32).