NHÀ VĂN PHAOLÔ

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Đọc các thư của Phaolô chúng ta thấy thánh nhân là một nhà văn. Nhưng các tác phẩm của Phaolô không phải là thứ sản phẩm văn chương phát sinh từ thư pḥng hay kết qủa sinh hoạt trí thức của một tư tưởng gia đứng trên và đứng ngoài mọi phe phái. Chúng lại càng không phải là thành qủa của những suy tư tổng quát hay nỗ lực t́m ṭi triết lư thần học trừu tượng phi không gian và thời gian. Không, các thư của Phaolô phát xuất từ chính sinh hoạt truyền giáo và mục vụ của ngài. Chúng mang dấu vết ”ở đây và bây giờ”. Chúng là các thư viết ra trong các dịp khác nhau hay đúng hơn chúng là các câu trả lời khẩn cấp cho các vấn đề cụ thể cá biệt của các cộng đoàn Kitô do thánh nhân thành lập và là phương tiện cần thiết trong công tác tông đồ nhằm mục đích liên lạc với tín hữu của các giáo đoàn này, hay là kiểu cách chia sẻ các quan điểm của cùng một ḷng tin với các tín hữu, như trong tường hợp thư gửi giáo đoàn Roma (Rm 1,12). Tuy được viết ra trong các dịp ngẫu nhiên, các thư của thánh Phaolô không có tính cá nhân, nhưng mang chiều kích cộng đoàn. Bởi v́ chúng luôn luôn diễn tả liên hệ giữa thánh nhân là tông đồ của Chúa Kitô và cộng đoàn tín hữu. Trường hợp thư gửi Philêmônê là bức thư có chiều kích cá nhân nhất cũng không ra khỏi khung cảnh chính thức và công khai ấy. Thật ra, ngay trong tư cách nhà văn Phaolô cũng luôn luôn trung thành với h́nh ảnh là con người của Tin Mừng. Trong chương 1,7 thư gửi giáo đoàn Galata, thánh nhân bênh vực sự thật của Tin Mừng chống lại khuynh hướng xuyên tạc của nhóm người Kitô gốc do thái qúa khích, muốn giải thích Tin Mừng tự do và giải phóng của Chúa Kitô theo quan điểm luật lệ của do thái giáo. Ngài viết: ”Không có một Tin Mừng nào khác đâu. Chẳng qua chỉ có mấy người gây rối loạn giữa anh chị em và muốn đánh đổ Tin Mừng của Chúa Kitô đó thôi”. Trong chương 1,16-17 thư gửi tín hữu Roma Phaolô khẳng định với tín hữu rằng Tin Mừng mà ngài rao giảng cho họ phát xuất từ chính Thiên Chúa và có mục đích đem lại ơn cứu độ cho con người, cho mọi người không trừ ai: ”Thật ra tôi không hổ thẹn v́ Tin Mừng. Bởi v́ đó là quyền năng của Thiên Chúa nhằm trao ban ơn cứu độ cho mọi kẻ có ḷng tin, trước tiên cho người do thái rồi cho người hy lạp. Thật vậy, bởi chính trong Tin Mừng mà sự công chính của Thiên Chúa được tỏ lộ ra bởi ḷng tin và cho ḷng tin theo lời đă viết: Kẻ công chính sẽ sống nhờ ḷng tin”. Nghĩa là tín hữu được ơn cứu độ không phải nhờ các công việc phúc đức ḿnh làm được như là phần thưởng hay gía mua vé vào cửa cuộc sống vĩnh cửu, nhưng là nhờ ḷng tin và ơn thánh Thiên Chúa ban.

 

Trong các thư viết cho các giáo đoàn Tessalonica, Côrintô và Philiphê, thánh Phaolô lấy Tin Mừng làm điểm tham chiếu để giải quyết các vấn đề của anh chị em tín hữu. Chẳng hạn trong chơưng 4 thư thứ nhất gửi tín hữu Tessalonica, thánh Phaolô tŕnh bầy giáo lư về cuộc sống đời sau dựa trên Tin Mừng phục sinh của Chúa. Đứng trước thái độ thiếu ḷng tin và ḷng cậy của nhiều tín hữu Tessalonica đau buồn thương khóc các thân nhân bạn bè qua đời đến như tuyệt vọng, Phaolô nhắc cho họ biết rằng nếu họ tin Chúa Giêsu đă chết và đă sống lại, th́ cũng phải xác tín rằng những kẻ chết trong Chúa Giêsu, cũng sẽ được Thiên Chúa đưa về với Ngài. C̣n những người đang sống trên trần gian này th́ trong ngày Chúa Giêsu Kitô quang lâm, cũng sẽ được cùng với các đă kẻ chết được sống lại, bước vào cuộc sống trường sinh với Chúa (1 Ts 4,13-18).

Với tín hữu Côrintô thánh Phaolô nhắc nhớ cho họ một nguyên tắc quan trọng trong cuộc sống. Đó là ḷng tin sống động và sâu xa đích thực có sức mạnh đem lại ơn cứu độ cho con người, phải là thứ ḷng tin cụ thể, được hiện thực ra bên ngoài bằng việc tuân giữ các giáo huấn Tin Mừng. Do đó nếu tín hữu Côrintô chỉ nói rằng họ tin mà không sống các giáo huấn Tin Mừng thánh nhân đă giảng dậy cho họ, th́ thứ ḷng tin ấy là thứ ḷng tin vô ích, không đem lại ơn cứu rỗi cho họ, như chúng ta có thể đọc trong chương 15 thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô. Và Tin Mừng Phaolô đă rao giảng cho họ là Tin Mừng cuộc khổ nạn cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô. V́ thế trước cảnh tín hữu Côrintô để cho một số Kitô hữu gốc do thái qúa khích chủ trương bắt mọi người phải trở về tuân giữ luật lệ và truyền thống của Do thái giáo Phaolô đă nói lên nỗi âu lo của ngài. Phaolô sợ họ bị Satan lừa dối họ như nó đă từng lừa dối bà Evà xưa kia, khiến cho họ dần dần ra hư hỏng và đánh mất đi sự ngay thẳng trước mặt Chúa. Bởi v́ họ đă tin và nghe theo những người tới rao giảng cho họ một Đức Kitô khác với Đức Kitô mà ngài đă loan báo cho họ, một Tin Mừng khác với Tin Mừng mà ngài đă loan truyền cho họ. Những ngừơi ấy lại c̣n khuyên họ lănh nhận một Chúa Thánh Thần khác với Chúa Thánh Thần mà họ đă lănh nhận, thế mà họ lại cứ tin theo. Đây là điều thánh Phaoplô đă đau đớn viết ra trong chương 11,4 thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô. Trong chương 13,4 cùng thư Phaolô lập lại Tin Mừng của Chúa Kitô chịu đóng đanh và khuyên tín hữu hăy lấy Tin Mừng của Chúa làm chuẩn để nghiêm chỉnh duyệt xét lại kiểu cách sống ḷng tin của họ.

Lấy Chúa Kitô khiêm hạ chịu đóng đanh làm mẫu mực cho cuộc sống ḷng tin và có cùng tâm t́nh như Chúa Kitô cũng là điều thánh nhân khuyên nhủ tín hữu Philiphê như viết trong chương 2 thư gửi cho họ. Phaolô khuyến khích họ hăy biết sống thương yêu nhau, đồng tâm nhất tríví nhau, không làm việc ǵ v́ óc cạnh tranh, hay cầu danh hám lợi, nhưng biết sống khiêm tốn vui nhận kẻ khác trổi hơn ḿnh và biết nghĩ đến ích lợi của kẻ khác trước khư không t́n lợi ích cho riêng ḿnh.

Một mặt Phaolô rao giảng Tin Mừng cho tín hữu, mặt khác thánh nhân luôn khuyến khích họ sống theo tinh thần Tin Mừng ấy. Chẳng hạn trong hai chương 4 và 5 thư thứ nhất gửi tín hữu Tessalonica thánh nhân khuyên họ cố gắng sống thánh thiện và xa lánh tội dâm dục, biết kính trọng thân xác của họ và thân xác người khác, biết yêu thương mọi người, chăm chỉ làm việc bổn phận, thi hành nghề nghiệp của ḿnh và không phiền lụy ai, biết tỉnh thức và sống như con cái của sự sáng, biết qúy trọng cá chủ chăn, răn bảo kẻ lười biếng, an ủi kẻ nhát sợ, nâng đỡ người yếu đuối và nhịn nhục mọi người, không lấy ác báo ác, luôn luôn làm điều thiện, luôn vui vẻ, cầu nguyện và cám tạ Thiên Chúa, không dập tắt Chúa Thánh Thần, không khinh khi lời các ngôn sứ, biết xem xét mọi sự bỏ điều xấu giữ điều tốt.

Trong thư gửi giáo đoàn Galata chương 5,13-6,10 thánh nhân khuyên tín hữu hăy sống theo Thần Khí cócác hoa trái là bác ái, vui mừng, binh an, nhẫn nại, nhân từ hiền lành, khoan dung, trung thực, khiêm tốn tiết độ, chứ đừng chạy theo các ham muốn của xác thịt khiến cho con người trở thành gian dâm, ô uế, phóng đăng, thờ tà thần, qủy thuật, thù oán, đố kỵ, hiềm khích, giận ghết, căi cọ, bất ḥa, bè phái, ghen tị, giết người, say sưa, mê ăn uống. Những kẻ phạm các tội ấy không được vào Nước Thiên Chúa.

Trong thư gửi giáo đoàn Roma chương 12,1 tới chương 15,13 thánh nhân cũng đưa ra các giáo huấn và lời khuyến khích tín hữu biết canh tân tâm trí, sống khiêm nhường và yêu thương nhau. Mỗi tín hữu phải ư thức được ḿnh là một chi thể trong ḿnh mầu nhiệm Chúa Kitô là Giáo hội, nên có các phận vụ đặc thù khác nhau cần chu toàn với ư thức trách nhiệm cao. Mỗi người đều nhận được các đặc sủng khác nhau, cần tận dụng và sinh lợi cho toàn thể Giáo hội. Thánh nhân cũng khuyên mọi người hăy luôn sống trong tươi vui, hy vọng, kên tŕ cầu nguyện và nhẫn nại, biết chia vui sẻ muộn và liên đới với nhau. Ngoài ra Phaolô c̣n khuyên mọi người biết chu toàn mọi bổn phận công dân của ḿnh và tuân phục các chính quyền hợp pháp, tỉnh thức tránh xa tội lỗi, mặc lấy Chúa Kitô, không chiều theo sự thèm muốn của xác thịt, không làm gương xấu và nên cớ vấp phạm cho người yếu ḷng tin, và cư xử ḥa nhă với nhau.

Tóm lại chúng ta có thể định nghĩa các thư của thánh Phaolô là các tông thư hay thư mục vụ. Chúng thay thế cho lời giảng dậy trực tiếp sống động của thánh nhân trong công tác tông đồ mục vụ. Như thế là v́ Phaolô không thể đến thăm các tín hữu cộng đoàn nên ngài mượn bút thay lời để hiện diện bên họ và tiếp tục giảng dậy hầu củng cố ḷng tin của họ, hay giải đáp các vấn nạn cho họ. Cũng v́ thế nên các thứ của thánh Phaolô cũng khác với loại văn thư t́m thấy trong các hang trên đường dẫn sang Ai cập chẳng hạn như thư của triết gia Seneca gửi Lucilio, hay các thư có tính cách gia đ́nh và thương mại. Các thư của Phaolô giống thư ngôn sứ Giêrêmia viết cho tín hữu do thái đi đầy bên Babilonia (Gr 29,1-23) hay thư gửi người do thái sống bên Ai cập như thu thập trong sách Macabây hai (Mcb 1,1-2,18). Nhưng thật ra hiện nay giới hoc giả Kinh Thánh Tân Ước đều công nhận rằng các thư của Phaolô có nét riêng tư độc đáo của chúng. Đó là chúng phản ánh cuộc sống của thánh nhân và của các cộng đoàn do thánh nhân thành lập. Các thư được viết trên loại giấy làm bằng sậy Papyrus, là loại giấy thông dụng, rẻ tiền và dễ mua thời đó. Phaolô đă đọc cho một thư kư viết. Trong số các thư kư đó chúng ta chỉ biết được chắc chắn tên của ông Terzô như ghi trong chương 16,22 thư gửi tín hữu Roma. Thường khi thánh nhân cũng tự tay viết vài hàng cuối trước khi kư tên như trường hợp thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô chương 16,21. Trong chương 6,11 thư gửi giáo đoàn Galata thánh Phaolô viết: ”Anh chị em hăy chú ư xem những ḍng chữ lớn chính tay tôi viết cho anh chị em đây”.

Ngoại trừ thư gửi ông Philêmônê có tính cách cá nhân, các thư khác đều được gửi cho các giáo đoàn, v́ thế được tuyên đọc trong các buổi hội họp cử hành phụng vụ. Bằng chứng là trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Tessalonica chương 5,27 thánh nhân dặn là phải đọc cho hết mọi người nghe. V́ thế nên nếu chúng ta có gặp ở đầu thư hay cuối thư các công thức phụng vụ, th́ cũng là điều dễ hiểu.