VIỆC THU GÓP CÁC THƯ CỦA THÁNH PHAOLÔ 

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Cho tới nay chúng ta đă t́m hiểu một số đặc thái trong các thư của thánh Phaolô, các kiểu hành văn cũng như việc biên soạn chúng. Nhưng lịch sử h́nh thành của chúng không kết thúc với việc biên soạn và gửi tới các giáo đoàn liên hệ. Sau khi Phaolô qua đời, các cộng đoàn đă cẩn trọng giữ ǵn các bức thư ấy như một kỷ niệm và như là một kho tàng tinh thần qúy báu. Một số thư bị mất đi, nhưng chúng ta không biết trong các hoàn cảnh nào và tại sao. Các thư khác được thu thập lại, và trong thời gian thu thập này xảy ra sự kiện các thư xác thực được sắp xếp chung với các thư không do thánh nhân viết ra. Tập thu tích thư của thánh Phaolô phát sinh từng bước từ đó. Nó có uy tín mau chóng đến độ được tín hữu coi như là các tác phẩm của Kinh Thánh. Thật thế, ngay trong thời gian thư thứ hai thánh Phêrô được phổ biến - đây lại là một trường hợp gỉa tên khác - các thư của thánh Phaolo đă được nhắc tới như là một tài liệu, mà mọi kitô hữu thuộc Giáo hội tiên khởi đều hay biết: ”Anh chị em hăy coi ḷng khoan dung (sự kiên nhẫn lâu dài) của Thiên Chúa chúng ta như là ơn cứu độ, cũng như người anh em thương mến của tôi là Phaolô đă viết cho anh chị em theo sự khôn ngoan được ban cho ông. Ông cũng đă làm như vậy trong mọi thư đề cập tới vấn đề này. Trong các thư đó có vài điều khó hiểu và những kẻ dốt nát cũng như những người hay thay đổi thường xuyên tạc các điều này cũng như họ xuyên tạc các tác phẩm khác trong Kinh Thánh, làm nguy hại cho phần rỗi của chính họ” (2 Pr 3,15-16). Chắc hẳn là vào cuối thế kỷ thứ I hay đầu thế kỷ thứ II tại Hy Lạp, Italia và Tiểu Á các cộng đoàn Kitô đă có được tập thu góp 13 thư của thánh Phaolô, trừ thư gửi tín hữu Do thái (A. Wickenhauser, Introduzione al Nuovo Testamento, Brescia 1963,34).

Chúng ta có được văn bản tiếng hy lạp các thư là nhờ nhiều thủ bản rất cổ xưa và uy tín. Chẳng hạn như thủ bản viết trên giấy làm bằng sậy papyrus số 46 thuộc khoảng năm 200, các văn bản viết chữ hoa như văn bản Sinaitico thuộc thế kỷ thứ IV (văn bản này thuộc thư viện của tu viện thánh nữ Catarina trong bán đảo Sinai, do đó gọi là văn bản Sinaitico, viết tắt là Aleph, theo mẫu tự Do thái. Hiện nó được lưu giữ trong viện bảo tàng Luân Đôn), văn bản Vaticăng cũng thuộc thế kỷ thứ IV (văn bản này được lưu giữ trong thư viện thuộc bảo tàng viện Vaticăng, viết tắt là chữ B hoa theo mẫu tự latinh), văn bản Claromontano thuộc thế kỷ thứ VI (văn bản này thuộc quyền sở hữu của ông Claromontano, viết tắt là chữ D hoa theo mẫu tự latinh. Hiện nó được lưu giữ tại Paris). Trên đây chỉ là một vài thủ bản cổ xưa, quan trọng và đầy đủ đáng tin cậy nhất. Thực ra khi dùng các tiêu chuẩn khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau như ngữ học, khảo cổ, thuật đọc và phân tích các văn bản cổ vv... để biên soạn ra văn bản Tân Ước hy lạp như chúng ta hiện có, các học giả tân ước và giới chuyên viên tân ước đă nghiên cứu, so sánh và dùng hàng ngàn tài liệu và thủ bản khác nhau. Các tài liệu và thủ bản này hiện được lưu giữ trong các bảo tàng viện đó đây tại các nước châu Âu như Italia, Pháp, Anh Ai len, Đức, Áo, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha, hay bên Hoa Kỳ, hoặc bên Nga và Ai Cập.

Trừ các thủ bản viết trên da thuộc, hay các chất liệu bền, đa số được viết trên các chất liệu rất ḍn mỏng như giấy làm bằng sậy papyrus, do đó rất dễ hư hại. V́ sợ chúng hư hại hay bị đánh cắp nên các thủ bản chính thường được chụp lại rồi được cất giữ rất kỹ. Các thủ bản trưng bày cho công chúng trong các viện bảo tàng thường là bản chụp facsimile, chứ không phải là thủ bản chính.

Văn bản Tân Ước hy lạp thường được dùng hiện nay để dịch ra các thứ tiếng khác nhau trên thế giới là The Greek New Testament, do các học giả Kurt Aland, Matthew Black, Carlo Maria Martini, Bruce M. Metzger và Allen Wikgren xuất bản vơi sự cộng tác của Học viện nghiên cứu văn bản Kinh Thánh Tân Ước Muenster bên Đức.

Tưởng cũng nên biết, để dựng lại văn bản các sách hay các thư của toàn Tân Ước tiếng hy lạp, các học giả đă phải nghiên cứu và đối chiếu hàng ngàn tài liệu và thủ bản lớn nhỏ khác nhau. Các tài liệu và thủ bản đó là các bản sao chép được lưu giữ đó đây trên thế giới. Dựa vào các thủ bản này và các bản dịch cổ, giới học giả có thể dựng lại văn bản chính một cách chắc chắn đối với các yếu tố ṇng cốt, nghĩa là các yếu tố bảo đảm cho sự xác thực của nội dung, và gần chắc chắn đối với các yếu tố riêng tư nhỏ nhặt khác của văn bản.

Có thể chia các tài liệu và thủ bản này thành hai nhóm chính: nhóm trực tiếp và nhóm gián tiếp. Nhóm trực tiếp bao gồm bốn loại thủ bản. Loại thứ nhất gọi là ”Codici”, tức các thủ bản được viết trên các mảnh da thuộc. Loại thứ hai gọi là “Papiri”, tức các văn bản được viết trên giấy làm bằng loại sậy papyrus, là chất liệu thông thường, rẻ dễ mua và dễ t́m, v́ được Ai Cập xuất khẩu trong toàn vùng Trung Đông Cổ ngày xưa. Loại thứ ba gọi là ”Lezionari”, tức các thủ bản được biên chép và sắp xếp thứ tự để dùng trong các lễ nghi phụng vụ. Loại thứ tư gọi là ”Ostraca”, tức các câu Kinh Thánh Tân Ước được viết trên các mảnh vại, mảnh sành bằng đất sét nung. Nhóm tài liệu và thủ bản giản tiếp là các câu trích nguyên văn mà các soạn giả đem vào trong các tác phẩm của ḿnh, hay các bản dịch.

Các thủ bản ”Codici” c̣n được chia thành hai loại. Một loại gọi là ”Codici unciali”, tức các thủ bản viết bằng chữ hoa lớn đều như nhau từ đầu tới cuối. Loại thứ hai goi là ”Codici minuscoli” hay ”corsivi”, viết theo kiểu chữ thảo thông thường, liền nhau và lớn nhỏ khác nhau. Cho tới thế kỷ thứ VII-VIII các thủ bản Codici thường là các thủ bản unciali, tức viết chữ hoa lớn đều nhau từ đầu tới cuối. Sau thế kỷ thứ X th́ kiểu viết chữ thảo thông dụng hơn. Có tất cả là 266 thủ bản ”Codici unciali”, hơn 2.750 thủ bản ”Codici corsivi” hay ”minuscoli”, 81 thủ bản Papiri, 2.100 thủ bản Lezionari. Thủ bản Ostraca rất ít. Tổng cộng như thế chúng ta có tất cả khoảng 5.000 tài liệu và thủ bản liên quan tới Kinh Thánh Tân Ước. Trong số đó chỉ có 53 Codici, tức các thủ bản viết trên da thuộc là có đầy đủ mọi tác phẩm Tân Ước. Các thủ bản Codici khác chỉ chứa đựng một phần các tác phẩm Tân Ước, như bốn Phúc Âm, sách Khải Huyền vv... Các thủ bản Papiri hầu hết đều ngắn. Các thủ bản Lezionari chứa đựng các văn bản Kinh Thánh Tân Ước khác nhau. C̣n các câu viết trên Ostraca tức các mảnh đất sét nung th́ rất ngắn.

Để có thể nhận diện các tài liệu và các thủ bản kể trên, giới học gỉa và chuyên viên phê b́nh văn bản đă đặt ra các hệ thống viết tắt và ghi số thứ tự. 51 thủ bản ”Codici unciali” đầu tiên được gọi thứ tự theo một mẫu tự hy lạp hay latinh viết hoa. Nhưng cũng xảy ra là thường khi một mẫu tự cũng ám chỉ ba thủ bản khác nhau. Chẳng hạn chữ ”F” ám chỉ nhiều thủ bản chữ hoa khác nhau: một thủ bản lưu giữ trong bảo tàng viện Utrecht bên Ḥa Lan chỉ gồm 4 Phúc Âm, một thủ bản lưu giữ trong bảo tàng viện Cambridge bên Anh quốc chỉ gồm các thư của thánh Phaolô, và một thủ bản thứ ba lưu giữ trong tu viện của các thầy ḍng chính thống trên núi Athos bên Hy Lạp, chỉ gồm sách Khải Huyền. Tất cả các thủ bản ”Codici unciali” khác th́ đước ghi số thứ tự, bắt đầu với số 0 đứng trước. Các thủ bản ”Codici minuscoli”, tức loại thủ bản viết chữ nhỏ thường không phải là chữ hoa, th́ được ghi thứ tự theo số A rập. Các ”Papiri” th́ được đánh dấu bằng chữ ”P” hoa, và tiếp theo ở trên cao là số thứ tự của thủ bản. Các ”Lezionari” th́ được ghi dấu bằng chữ ”l” thường và theo sau là số thứ tự.