THẦN HỌC GIA PHAOLÔ

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Khi đọc các tác phẩm Tân Ước, chúng ta thấy mọi tác giả đều chủ ư diễn tả ḷng tin kitô, nhưng mỗi vị theo một chủ đích thần học riêng và diễn tả một số nội dung nhất định. Đây cũng là trường hợp của các soạn gỉa bốn Phúc Âm. Tuy nhiên, không phải soạn giả nào cũng dùng một thứ ngôn ngữ thần học chính xác hay cống hiến cho chúng ta một suy tư thần học có tính chất phê b́nh và do ḷng tin thúc đẩy. Nhưng đây lại là trường hợp của thánh Phaolô. Trong tất cả các soạn giả của Kinh Thánh Tân Ước thánh Phaolô đă là người có thứ tiếng nói thần học dễ nhận ra nhất. Thánh nhân đă biết soạn thảo ra các phạm trù tư tưởng có sức diễn tả mạnh mẽ và đi sâu vào thực tại ḷng tin kitô. Chẳng hạn các phạm trù như: ơn thánh, sự công chính hóa, ḥa giải, giải phóng, ḥa b́nh, ơn cứu độ, sự sống và sự chết, vinh quang, tội lỗi, đền chuộc, khôn ngoan, thập giá, giáo hội, hiệp thông, tin mừng, phục vụ, tông đồ, các đặc sủng, ”mầu nhiệm”, sự mạc khải, và trong lănh vực nhân chủng học có cả phạm trù ”thịt xác” và ”thân thể” nữa.

 

Dĩ nhiên thánh Phaolô không phải là người sáng chế ra các phạm trù tư tưởng này, bởi v́ đa số chúng đều là các ư niệm đă có trong truyền thống kinh thánh, truyền thống do thái và truyền thống kitô tiên khởi. Nhưng thánh Phaolô đă mặc cho chúng một ư nghĩa và một nội dung chưa hề được biết tới cho tới thời đó. Thí dụ như tước hiệu ”Kyrios”, ”Chúa” áp dụng cho Chúa Kitô phục sinh. Đây là tước hiệu mà tín hữu trong cộng đoàn kitô tiên khởi nói tiếng aramây đă dùng để gọi Chúa Kitô phục sinh. Nhưng khi được thánh Phaolô dùng lại trong các thư, tước hiệu này mang nội dung thần học sâu đậm đến trở thành một phạm trù diễn tả nét thần học về Chúa Giêsu. Khi dùng tước hiệu ”Kyrios”, ”Chúa” để gọi Đức Giêsu, thánh Phaolô muốn nêu bật gương mặt của Đức Giêsu Kitô phục sinh khải hoàn, được Thiên Chúa Cha tôn vinh cất nhắc lên cao cho ngự bên hữu Ngài, trao ban cho mọi quyền bính và đặt làm Chúa của toàn vũ hoàn, có toàn quyền trên mọi loài thụ tạo trên trời cũng như dưới đất và dưới ḷng đất. Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô chương 16,22 thánh Phaolô đă dùng lại lời tuyên xưng của cộng đoàn kitô tiên khởi nói tiếng aramây khi viết: ”Nếu ai không yêu mến Chúa, th́ hăy là đồ bị chúc dữ! Marana tha!”. Ở đây Chúa Giêsu Kitô phục sinh được tín hữu gọi là ”Kyrios”, và thánh Phaolô ghi lại tước hiệu cộng đoàn kitô tiên khởi dùng trong công thức phụng vụ tiếng aramây để kêu xin Chúa đến ”Marana tha”, có nghĩa là ”Lậy Chúa chúng con xin hăy đến”. ”Marê''” trong tiếng aramây có nghĩa là ”Chúa”, ”Kyrios”. Đây cũng là trường hợp của các tước hiệu khác như ”Kristos” ”Đấng được xức dầu” hay ”Đấng Cứu Thế” và ”hô huios tou Theou”, ”Con Thiên Chúa” (W. Kramer, Christos Kyrios Gottessohn, Zuerich 1963). Trường hợp nền Thánh Thần học hay định nghĩa thần học về Chúa Thánh Thần trong thư của thánh Phaolô cũng vậy. Thánh Phaolô gọi Chúa Thánh Thần là ”Thần Linh của Đức Kitô” (R. Penna, Lo spirito di Cristo, Brescia 1976).

Bên cạnh đó thánh Phaolô cũng đă đào sâu ư nghĩa thần học của các bí tích Rửa Tội và Thánh Thể. Chương 6 thư gửi giáo đoàn Roma là một khảo luận thần học tuyệt diệu về bản chất và ư nghĩa của bí tích Rửa Tội. Thánh Phaolô khẳng định rằng khi lănh nhận bí tích Rửa Tội là tín hữu đă cùng chết và được mai táng với Đức Kitô, để được bước vào cuộc sống mới như Chúa Kitô phục sinh. Khi tin nhận Chúa và lănh bí tích Rửa Tội, là tín hữu cùng đóng đinh con người cũ vào thập gía với Chúa Kitô, để hủy diệt thân xác tội lỗi, và không c̣n là nô lệ của tội lỗi nữa. V́ kẻ đă chết th́ được giải thoát khỏi tội lỗi. Khi cùng chết với Đức Kitô, th́ tín hữu cũng sẽ được sống lại với Ngài, và sống cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Cũng chính v́ đă có được sự sống mới ấy, nên tín hữu không được để cho tội lỗi ngự trị trong thân xác của ḿnh nữa, và không được dùng các chi thể của ḿnh để phục vụ tội lỗi như dụng cụ của bất công nữa, nhưng phải dùng chúng như dung cụ của sự công chính và phụng sự Thiên Chúa. Nếu trước khi trở thành con cái Chúa, tín hữu đă phải sống dưới ách thống trị của luật lệ, th́ ǵơ đây họ không sống dưới luật lệ nữa mà sống dưới ơn thánh. Nếu trước đây họ nô lệ tội lỗi và dùng chi thể của họ để phục vụ ô uế và gian ác dẫn đưa họ tới cái chết, th́ giờ đây họ phải cố gắng sống vâng phục sự công chính dẫn đưa họ tới chỗ nên thánh. Qua bí tích Rửa tội họ đă được giải phóng khỏi kiếp sống nô lệ tội lỗi, để trở thành tôi tớ của sự công chính và của Thiên Chúa, để được trở nên thánh thiện và hưởng sự sống vĩnh cửu. Bởi v́ đồng lương của tội lỗi là cái chết, c̣n ơn nhưng không Thiên Chúa ban cho là sự sống trường sinh trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.

Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Corintô chương 10,14-22, và chương 11,17-34 Thánh Phaolô đă đào sâu ư nghĩa thần học của bí tích Thánh Thể, bằng cách đả phá hai thái độ sống phản Tin Mừng. Thứ nhất là tâm thức trộn lẫn tôn giáo, theo Chúa nhưng cũng tôn thờ các thần linh và ngẫu tượng khác, thứ hai là biến việc cử hành bí tích Thánh Thể trở thành dịp ăn uống say sưa và khoe khoang cái giầu sang của ḿnh, khiến cho các anh chị em tín hữu nghèo khó hơn phải tủi nhục và xúc phạm tới phẩm gía của họ. Trong chương 10 thánh Phaolô khuyên tín hữu hăy xa lánh các tà thần. Nếu đă quyết định tin nhận Chúa và trở thành con cái Chúa, tín hữu phải từ bỏ mọi tà thần khác. Bởi v́ không thể tham dự tiệc Thánh Thể, ăn Ḿnh và uống Máu Thánh của Chúa Giêsu, kết hiệp với Chúa và với cộng đoàn Giáo Hội, rồi lại đi tham dự các lễ nghi cúng bái các thần linh khác và ăn thịt cúng tế cho ma qủy và hiệp thông với ma qủy. Không xét trên phương diện xác tín và hiểu biết ḷng tin, người có lư trí và trung thực với ḿnh cũng sẽ không hành xử như thế.

Trong chương 11 cùng thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô thánh Phaolô đă đả phá các tệ đoan nảy sinh trong cộng đoàn liên quan tới việc cử hành bí tích Thánh Thể. Trước hết là thái độ thiếu bác ái và hiệp nhất trong các cộng đoàn cử hành Thánh Thể (ekklesia). Các tín hữu chia rẽ nhau thành các nhóm giầu nghèo và ngồi ăn riêng rẽ. B́nh thường trong các buổi cử hành tiệc Thánh Thể, hay c̣n gọi là lễ nghi Bẻ Bánh, hoặc bữa Tiệc Chiều, mọi tín hữu thuộc cộng đoàn cùng chia sẻ bữa ăn huynh đệ sau đó với nhau. Họ góp chung tất cả những ǵ mỗi người đem theo rồi cùng chia nhau ăn uống trong yêu thương, ḥa hợp không phân biệt giai cấp. Nhưng trong cộng đoàn Côrintô tín hữu đă không trung thành với thói quen này nữa. Thay v́ góp các thức ăn lại rồi cùng chia cho nhau, th́ họ lại chia bè chia nhóm theo giai tầng xă hội người giầu ngồi với người giầu, mạnh ai người ấy ăn, mà không đợi mọi người góp thức ăn lại với nhau và chia sẻ mọi thứ đồng đều cho nhau. Cung cách hành xử này đi ngược lại tinh thần yêu thương huynh đệ và ḥa đồng của tiệc Thánh Thể, mà bữa ăn chia sẻ huynh đệ tiếp theo đó là kiểu cách diễn tả cụ thể. Khi chỉ ngồi với nhau và ăn các thức ḿnh đem tới là các anh chị em kitô giầu khinh thị các anh chị em nghèo túng hơn và chê bai thức ăn thanh đạm của họ. Nhưng hành xử như thế là phản bội Tin Mừng yêu thương đại đồng của Chúa.

Tệ đoan thứ hai thánh Phaolô đả phá ở đây là sự kiện các anh chị em kitô giầu ăn uống qúa độ. Đă không đợi chung góp đồ ăn thức uống để chia sẻ đồng đều cho các anh chị em thiếu thốn hơn, họ lại c̣n dùng bữa ăn sau khi cử hành bí tích Thánh Thể như là dịp và như là kiểu phô trương cái giầu có của họ, bằng cách ăn uống chè chén, khiến xảy ra cảnh ”người c̣n đói meo, mà kẻ khác đă say mèm”. Nhưng khi hành xử như thế là họ làm cho các anh chị em nghèo túng hơn phải tủi nhục, cảm thấy ḿnh như là loại tín hữu hạng hai, thấp kém hơn. Bữa ăn sau buổi cử hành bí tích Thánh Thể là kiểu cách cụ thể kéo dài tinh thần hiệp nhất yêu thương huynh đệ và chia sẻ cho nhau. Nhưng làm sao họ có thể duy tŕ và diễn tả tinh thần đó, khi họ phân chia giai cấp, không chia sẻ thực phẩm cho nhau và ngồi ăn riêng rẽ như vậy?

Để sửa dậy tín hữu thánh Phaolô nhắc nhớ cho họ biết giáo lư về bí tích Thánh Thể, mà chính ngài đă nhận được từ Chúa và truyền lại cho họ. Ở đây thánh Phaolô gián tiếp khẳng định rằng giáo lư về bí tích Thánh Thể mà ngài đă nhận được từ cộng đoàn kitô Damasco sau cuộc gặp gỡ đổi đời trên đường tới thành Damasco, bắt nguồn từ chính Chúa Giêsu Kitô. Công thức của bài giáo lư thánh thể này hoàn toàn phù hợp với công thức ghi trong Phúc Âm thánh Luca, nhưng không tương đồng với công thức trong Phúc Âm Mátthêu và Marcô. Sự kiện này chứng minh cho thấy tài liệu của Phaolô và tài liệu của Luca có cùng một nguồn gốc và cùng một môi trường là cộng đoàn kitô Antiokia. Giáo lư về bí tích Thánh Thể nêu bật cái chết hiến tế đổ máu của Chúa Kitô. Nó được diễn tả qua các kiểu nói bẻ bánh, ”ḿnh Thầy trao ban cho các con” và ”chén tân ước trong máu Thầy”. Và Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ lập lại cử chỉ bẻ bánh ấy để nhớ tới Ngài. Mỗi lần cử hành bí tích Thánh Thể là kitô hữu loan báo cái chết của Chúa Giêsu cho tới khi Ngài lại đến. Tŕnh thuật bí tích Thánh Thể cũng ám chỉ rơ ràng tới lễ Vượt Qua. Ngày lễ Vượt Qua sẽ được dân Do thái cử hành từ đời này sang đời khác như lễ kỷ niệm, và như là ngày lễ của Chúa (Xh 12,14). Cũng giống như lễ Vượt Qua là lễ kỷ niệm biến cố xuất hành giải phóng đối với dân Do thái, bí tích Thánh Thể là lễ Vượt Qua của kitô hữu. Nó cử hành cái chết cứu chuộc của Chúa Kitô, tháp nhập tín hữu vào cái chết cứu độ đó và dẫn đưa tín hữu tới sự sống phục sinh. V́ thế nên sau khi cùng nhau cử hành cái chết của Chúa Giêsu, ăn Ḿnh và uống Máu Ngài, nghĩa là cử hành biến cố Chúa Kitô giải phóng họ khỏi tội lỗi và ách nô lệ áp bức của nó, mà tín hữu cộng đoàn Côrintô lại có cung cách phân chia giai cấp như vậy là họ tiếp tục biện minh cho sự áp bức và chia rẽ ấy. Và như thế là phản bội Tin Mừng và mầu nhiệm cứu chuộc mà họ đă cử hành trước đó.