CÁC CHẶNG TRONG TIẾN TR̀NH GIÁO HUẤN THẦN HỌC CỦA THÁNH PHAOLÔ

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Như chúng ta đă thấy cho tới nay, thần học tŕnh bầy trong các thư của thánh Phaolô không phải là nền thần học hệ thống, mà là thần học thực dụng. V́ là các câu trả lời cho các vấn nạn tín hữu gặp phải trong cuộc sống ḷng tin của họ, nên giáo huấn thần học của thánh Phaolô cũng theo tiến tŕnh hoạt động truyền giáo và mục vụ của thánh nhân.

 

Thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica là bức thư đầu tiên và có lẽ là tài liệu cổ xưa nhất của Kinh Thánh Tân Ước. Thánh Phaolô đă viết bức thư này giữa năm 50-51 với mục đích củng cố ḷng tin của các tín hữu và bổ túc các giáo huấn mà ngài chưa kịp giảng giải cho họ. Đề tài nổi bật là các biến cố của thời cánh chung, sự sống lại của Chúa Kitô và của các tín hữu. Phaolô đă tới Thêxalônica rao giảng Tin Mừng và thành lập cộng đoàn kitô. Nhưng chưa được bao lâu th́ cộng đoàn do thái tại đây phát động phong trào chống đối bách hại, bằng cách gây rối loạn trong thành phố rồi đổ tội cho các thừa sai kitô là chống lại các chỉ thị của hoàng đế Roma. Chưa hết, họ c̣n lôi một số kitô hữu ra trước mặt các quan ṭa. Trước làn sóng bách hại này, tín hữu Thêxalônica đă buộc ḷng phải đưa Phaolô và các cộng sự viên sang Berea. Nhưng nhóm do thái Thêxalônica cũng theo sang tận Berea để phản đối công tác truyền giáo của thánh Phaolô. Phải xa rời tín hữu của một cộng đoàn mới được thành lập như thế, thánh Phaolô âu lo cho số phận của họ. Do đó ngài viết thư củng cố và khuyến khích họ kiên tŕ trong gian nan thử thách. Thánh nhân khuyên họ noi gương Chúa Giêsu Kitô Người Tôi Tớ khổ đau của Giavê Thiên Chúa. Riêng đối với người do thái Thêxalônica, Phaolô đă đưa ra những lời kết tội rất nặng. Ngài gọi họ là những kẻ đă giết Chúa Giêsu và các ngôn sứ, là thù địch của mọi người và là dụng cụ của Satan (1 Ts 2,14-17).

Năm năm sau đó trong cộng đoàn Côrintô nảy sinh một vấn đề điển h́nh của công tác truyền giáo thuộc mọi thời đại: đó là vấn đề hội nhập Tin Mừng vào nền văn hóa địa phương. Các thừa sai và cộng đoàn Kitô phải đối diện với sự cách biệt hay khác biệt văn hóa của môi trường trong đó Tin Mừng được rao giảng. Cho tới lúc ấy Tin Mừng đă chỉ được loan báo trong môi trường do thái Palestina. Giờ đây Tin Mừng được rao giảng trong thế giới hy lạp. Sự chuyển tiếp này làm phát sinh ra t́nh trạng khủng hoảng, mà chúng ta có thể gọi là cuộc khủng hoảng trưởng thành. Nhưng nó cũng có thể dẫn tới nguy cơ biến thái, nghĩa là khiến cho Tin Mừng bị lệch lạc đi và không c̣n tinh tuyền nữa. Và đây đă là trường hợp xảy ra tại Côrintô. Với các cơ chế và kiểu sống của các môi trường ngoại giáo không do thái, thế giới hy lạp Côrintô t́m tiêu hóa Tin Mừng theo kiểu tiêu hóa sinh vật lư, nghĩa là chọn lựa, thu hút từ Tin Mừng kitô những ǵ thích hợp với ḿnh, và loại bỏ tất cả các yếu tố khác. Đây là khuynh hướng thường xảy ra trong các trào lưu kitô ngộ đạo thuộc thế kỷ thứ II và trong ḍng lịch sử Giáo Hội tại những nơi nào công tác rao truyền Tin Mừng đă được thi hành một cách hấp tấp vội vă. Hậu qủa là tín hữu duy tŕ các tín ngưỡng cổ xưa họ đă có, và trộn lẫn chúng với một số yếu tố của Kitô giáo. Hiện tượng trộn lẫn tôn giáo này chúng ta có thể t́m thấy tại nhiều nước trên thế giới như tại Brazil bên châu Mỹ Latinh, tại Haiti, và một số nước khác tại Phi châu. Điển h́nh là thứ tôn giáo trộn lẫn Kitô giáo với tôn giáo Phi châu cổ truyền gọi là ”Vudu”.

Trước các lệch lạc này của cộng đoàn kitô hy lạp Côrintô, thánh Phaolô đă tỏ ra rất cứng rắn và mạnh mẽ lên án mọi tâm thức và thái độ sống không phù hợp với tinh thần Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Phaolô nhắc cho tín hữu Côrintô biết rằng khi tin nhận Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Ngài, họ đă dứt khoát bẻ gẫy với qúa khứ và việc tôn thờ các thần linh khác. Do đó họ phải trung thành với ḷng tin và các giáo huấn của Chúa Giêsu mà Phaolô đă rao truyền cho họ. Dưới ánh sáng của nguyên tắc này thánh nhân đă duyệt xét một số thái độ sống lệch lạc của tín hữu Côrintô. Chẳng hạn như thái độ chia rẽ phân biệt giai cấp giầu nghèo, tâm thức sống theo cái khôn ngoan của con người trần gian, thái độ khinh miệt thân xác và hôn nhân hay ngược lại kiểu sống tính dục buông thả, vấn đề ăn thịt dâng cúng cho các thần linh hay tham dự các lễ nghi tiệc tùng trong khung cảnh tôn thờ các thần linh ngoại giáo, các lộn xộn, lạm dụng và lệch lạc xảy ra trong các buổi cử hành bí tích Thánh Thể như thói quen dùng dịp này để chia bè chia nhóm giàu nghèo và ăn uống say sưa. Sau cùng là vấn đề người chết sống lại. Do thái giáo và Kitô giáo quan niệm con người như một bản vị duy nhất. Do đó sự sống lại liên quan tới cả xác lẫn hồn. Nhưng đó là quan niệm khó chấp nhận đối với môi trường hy lạp mang nặng ảnh hưởng của các triết lư nhị nguyên.

Phaolô khẳng định với các tín hữu rằng mọi người sẽ sống lại, cả hồn lẫn xác. Nhưng trong cuộc sống hiện tại trên trần gian này tín hữu phải mang dấu vết của yếu đuối và sự ḍn mỏng tạm bợ của kiếp người. Tính chất mới mẻ của Thần Linh như là nguyên lư cuộc sống của thế giới, tiềm ẩn trong các mâu thuẫn của lịch sử. Và cộng đoàn Giáo Hội được xây dựng trên nền tảng vững chắc của sự hiệp thông giữa mọi tín hữu, là khung cảnh và môi trường đặc biệt được Thần Linh Chúa ưa thích dùng để diễn tả sự mới mẻ ấy. V́ thế để đừng đánh mất ơn cứu độ, tín hữu phải cố gắng noi gương sống vâng lời của Chúa Giêsu Kitô trong mọi khó khăn của cuộc sống thường ngày, chứ không được có thái độ tươi vui vô lo trốn chạy sự thật của những người không dám nghĩ tới số phận mai sau của ḿnh.

Chẳng bao lâu sau khi viết lá thứ thứ nhất cho tín hữu Côrintô, thánh Phaolô phải đương đầu với các thách đố mới. Trước hết là lời nguyền rủa của một tín hữu xúc phạm tới thánh nhân và toàn cộng đoàn. Tiếp đến là sự cạnh tranh và các vu khống tấn công của nhóm thừa sai kitô gốc do thái cũng như của các thừa sai ngoại giáo khác. Những nhóm này đề cao các khả năng và đặc sủng cá nhân cũng như các buổi phụng tự chữa bệnh và xuất thần. Họ lấy sứ điệp cá nhân lấp liếm sứ điệp Tin Mừng của Chúa, và đề cao một thứ đặc sủng lệch lạc nhằm thay thế tinh thần tông đồ phục vụ khiêm tốn, mà mọi thừa sai chân chính đều phải có đối với cộng đoàn dân Chúa. Cuộc chiến chống lại ảnh hưởng tiêu cực của các nhóm này trên cộng đoàn Côrintô đă vô cùng cam go đối với thánh Phaolô. Thánh nhân viết cho tín hữu nhiều lần để khuyến khích họ trung thành với h́nh ảnh vị tông đồ trung thực, mà họ đă thấy nơi con người và qua cung cách sống của ngài. Trên b́nh diện nhân loại mà nói, dù ngài có là người yếu đuối và tật bệnh, bất toàn thế nào đi nữa, Thiên Chúa nhân từ cũng đă dùng thánh nhân như dụng cụ quyền năng cứu độ của Ngài. Nói cách khác trường hợp của Phaolô cũng giống như trường hợp của Đức Giêsu Kitô. Trên b́nh diện nhân loại mà nói, Đức Giêsu Kitô bị đóng đanh trên thập gía là dấu chỉ của sự yếu đuối, bất lực và thất bại. Nhưng Thiên Chúa đă lại dùng chính cuộc khổ nạn, cái chết và thập gía hổ nhục của Chúa Kitô, nghĩa là sự yếu đuối, bất lực và thất bại đó để tỏ lộ quyền năng cứu độ và t́nh yêu thương vô bờ của Ngài đối với nhân loại tội lỗi, bởi v́ Thiên Chúa là ”Đấng trao ban sự sống cho người đă chết và khiến cho những ǵ không có được hiện hữu” (Rm 4,17; Cf. 2 Cr 13,4). Trong nhăn quan đó, thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô tŕnh bầy với chúng ta một nền thần học phục vụ sống động cụ thể, phát xuất từ quyết tâm của thánh Phaolô đối chiếu các hoạt động tông đồ mục vụ và cung cách hành xử của ngài với các hoạt động phá hoại của nhóm thừa sai giả hiệu, khua môi múa mỏ, lợi dụng thái độ thơ ngây dễ tin của tín hữu để trục lợi và củng cố địa vị cá nhân. Họ là dụng cụ Satan dùng để đánh phá cộng đoàn tín hữu.

Bầu khí trong đó thánh Phaolô viết thư cho tín hữu cộng đoàn Galát vào giữa năm 56-57, lại c̣n sôi bỏng và căng thẳng hơn. Phaolô thẳng mặt đốp chát với nhóm thừa sai kitô gốc do thái và lột mặt nạ của họ. Nhóm thừa sai này chủ trương bắt buộc mọi tín hữu không phải gốc do thái tuân giữ luật lệ Môshê, chấp nhận lễ cắt b́ và mọi lễ nghi phụng tự do thái khác. Thánh nhân mắng tín hữu Galát là ”ngu đần dại dột”, v́ đă nghe theo lời giảng dạy của nhóm thừa sai chủ trương tái lập Do thái giáo trong cộng đoàn kitô. Thế là từ chỗ được Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, mà thánh nhân rao giảng cho họ giải phóng, giờ đây họ lại chấp nhận quay trở về kiếp sống nô lệ luật lệ do thái, y như khi chưa biết và tin nhận Chúa Giêsu. Cuộc tranh luận này cho thánh Phaolô có dịp khai triển đề tài thần học liên quan tới sự công chính hóa dựa trên ḷng tin vào Chúa Kitô, để kéo tín hữu cộng đoàn ra khỏi t́nh trạng chối bỏ Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài (Gl 1,6).

Một phần nào đó thư gửi tín hữu Philiphê (c.3) cũng nhằm mục đích cảnh cáo tín hữu trước các mưu chước thâm độc của nhóm tông đồ kitô do thái nói trên, nhằm biến họ trở thành nô lệ của luật Môshê. Họ không chỉ đối nghịch với Phaolô, mà c̣n là dụng cụ của Satan trong cuộc chiến đánh phá Giáo Hội Chúa. Thánh Phaolô cho tín hữu thấy nỗi âu lo đối với ơn cứu rỗi của họ thường xuyên ám ảnh ngài ngay trong lúc bị tù tội nữa (Gl 1,1-3,1).

Vào cuối sứ mệnh truyền giáo tại vùng Cận Đông, khi sửa soạn lên đường về Giêrusalem để chuyển tới giáo đoàn mẹ sự trợ giúp của tín hữu các giáo đoàn khác, Phaolô viết thư cho tín hữu Roma với một chủ ư đại kết rơ rệt. Phaolô muốn cho tín hữu thấy rằng Tin Mừng yêu thương đại đồng của chúa Kitô nối kết tín hữu thuộc mọi quốc gia và nền văn hóa với nhau, và đạp đổ mọi bức tường ngăn cách. Giáo hội Chúa, dân riêng mới của Thiên Chúa quy tụ người thuộc mọi dân nước chấp nhận sống ḷng Tin, ḷng Cậy và ḷng Mến theo tinh thần Tin Mừng cứu độ đại đồng của Chúa Kitô trong môi trường cụ thể thường ngày.