NÉT ĐỘC ĐÁO TRONG TƯ TƯỞNG THẦN HỌC CỦA THÁNH PHAOLO BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU? 

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Khi duyệt xét các mấu điểm thần học nổi bật trong các thư của thánh Phaolô người ta tự hỏi không biết các nét độc đáo bắt nguồn từ đâu. Chúng do thánh Phaolô sáng chế ra hay chịu ảnh hưởng từ bên ngoài. Có một số học giả cho rằng kinh nghiệm gặp Chúa Kitô phục sinh trên đường đi thành Damasco đă trở thành suối nguồn làm phát sinh ra chúng. Thật ra thánh Phaolô đă tiếp nhận được các tư tưởng thần học này từ các cộng đoàn kitô tiên khởi, đặc biệt từ cộng đoàn kitô nói tiếng hy lạp có liên hệ mật thiết với thầy sáu Stephanô, mà giáo đoàn Antiokia bên Siri là đại biểu điển h́nh nhất. Phaolô đă lấy lại các công thức tuyên xưng ḷng tin của các anh chị em kitô tiên khởi này, cũng như tiếp nhận cách thức cử hành bí tích Thánh Thể (1 Cr 11,17 tt.) và Rửa Tội (Rm 6,1 tt.) của các cộng đoàn kitô Palestina và Siria. Thánh nhân cũng dùng lại thứ ngôn ngữ thần học phong phú đă có từ trước và thông dụng trong Giáo Hội thời khai sinh (B. Rigaux, Vocabulaire chrétien antérieur á la première épitre aux Thessaloniciens, in Sacra Pagina, II Paris-Grembloux 1959, 380-389). Nói cách khác, thần học của thánh Phaolô thật sự có nền tảng lịch sử không thể phủ nhận được. Biến cố gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh trên đường đi Damasco hẳn đă là một khúc rẽ toàn diện quan trọng trong tiến tŕnh phát triển, nhưng xem ra nó không phải là suối nguồn duy nhất gợi hứng cho tư tưởng thần học đặc thù trong các thư của thánh nhân.

Trên b́nh diện văn hóa chúng ta có thể khẳng định rằng thánh Phaolô đă là một người có tâm trí rộng mở cho tư tưởng do thái cũng như cho tư tưởng hy lạp, biết tiếp thu và vay mượn các quan niệm, các phạm trù và từ ngữ của cả hai thế giới. Phaolô là công dân của hai cả thế giới do thái cũng như hy lạp. Do đó có thể định nghĩa các thư của thánh nhân là ngă tư gặp gỡ giao thoa giữa các nền văn hóa khác nhau. Thật vậy, chúng ta có thể t́m thấy trong các thư của ngài các truyền thống Kinh Thánh do thái, các tư tưởng thần học và kiểu khai triển, chú giải của do thái giáo cũng như các cách diễn tả của triết lư hy lạp đương thời. Đây là dữ kiện được giới học giả kinh thánh ngày nay công nhận. Nó trái nghịch với lập trường một chiều trong qúa khứ, chỉ muốn coi Phaolô như là một tư tưởng gia do thái hay một tư tưởng gia hy lạp.

Tuy lập trường giải thích một chiều của các học giả kinh thánh đă lỗi thời, nhưng nó không phải hoàn toàn vô ích. Bởi v́ nó giúp chúng ta có nhiều yếu tố giúp nhận định vấn đề một cách chính xác hơn. Chúng ta có thể tóm gọn nỗ lực giải thích lịch sử các thư của thánh Phaolô trong các chặng chính yếu sau đây. Thứ nhất là lập trường của học giả C. Bauer cho rằng có thể giải thích các thư của thánh Phaolô trong tiến tŕnh lịch sử nội tại của Kitô giáo thuộc thế kư thứ I. Theo đó tư tưởng thần học của Phaolô chủ trương ơn cứu độ đại đồng là phản đề, đối kháng với tư tưởng thần học của các kitô hữu gốc do thái, mà thánh Phêrô là đại biểu, chủ trương ơn cứu rỗi chỉ dành để cho người do thái. Tuy lược đồ đơn giản này của học giả Bauer, người sáng lập trường phái Tuebingen, mang nặng ảnh hưởng triết lư của Hegel và đă lỗi thời, nhưng nó cũng có phần gía trị riêng. Học giả Bauer và trường phái Tuebingen có công trong việc đọc hiểu các thư của thánh Phaolô trong nhăn quan lịch sử, đặc biệt trong việc nhận ra nơi kitô giáo gốc do thái khuynh hướng lịch sử đối kháng với Phaolô. Nó giải thích lư do các cuộc tranh luận gắt gao giữa Phaolô với Phêrô và các kitô hữu gốc do thái.

Thứ hai là lập trường của trường phái tôn giáo. Các học giả thuộc trường phái này cũng t́m giải thích tư tưởng của Phaolô theo phương pháp phê b́nh lịch sử, nhưng ngoài khung cảnh kitô giáo và theo hai chiều hướng đối nghịch nhau. Một số học giả như Cumont và Reizenstein th́ t́m nguồn gốc tư tưởng của Phaolô trong các tôn giáo thần bí của thế giới hy lạp. Theo họ quan niệm về cái chết và sự sống lại của thánh Phaolô đă tùy thuộc quan niệm về cái chết và sự sống lại của các thần linh thuôc tôn giáo thần bí. Một số học giả khác như A. Schweitzer th́ t́m giải thích tư tưởng thần học của thánh Phaolô trong môi trường do thái, đặc biệt là khuynh hướng khải huyền. Tiếp đó khuynh hướng dùng các tôn giáo để giải thích tư tưởng thần học trong các thư của thánh Phaolô đă phát triển theo các hướng mới. Hướng hy lạp nghiên cứu thuyết ngộ đạo và coi thần thoại ngộ đạo như là khuôn mẫu văn hóa tôn giáo cho tư tưởng của thánh Phaolô. Theo các học giả thuộc khuynh hướng này, điển h́nh là Bultmann, thánh Phaolô đă tiếp thu thần thoại ngộ đạo và lịch sử hóa nó. Hướng do thái chủ trương ngược lại bằng cách t́m nghiên cứu môi trường do thái bao gồm Cựu Ước, trào lưu rabbi, và trường phái Qumrân. Đây là lập trường của các học giả như Lyonnet, Cerfaux, Dupont và Davies vv... Các học giả thuộc khuynh hướng này nêu bật sự kiện do thái giáo thời thánh Phaolô, đặc biệt là trong các cộng đoàn do thái sống ngoài đất Palestina, không phải là một thế giới khép kín, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng hy lạp nữa.

Ngày nay hai lập trường một chiều kể trên không đứng vững nữa. Lư do là v́ thánh Phaolô không chỉ là một tín hữu thuần do thái, cũng không chỉ là một người thuần hy lạp, mà là một người do thái có tâm trí rộng mới đối với thế giới và tư tưởng hy lạp. Trước hết thánh nhân là một người tùy thuộc các truyền thống kinh thánh cựu ước và rất thấm nhuần tư tưởng của Kinh Thánh Cứu Ước. Rất nhiều lời thánh Phaolô trích từ Cựu Ước chứng minh cho sự thật này. Đặc biệt hơn cả là các văn bản cựu ước thánh Phaolô đă dùng để nói về tội của dân do thái và h́nh phạt họ phải chịu trong chương 10,1-13 thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, hay trong các chương 9-11 thư gửi giáo đoàn Roma. Từ thế giới do thái thánh Phaolô cũng lấy lại một vài đề tài khải huyền và cánh chung như sự sống lại, cuộc sống đời sau và ngày Chúa quang lâm vv... như chúng ta có thể kiểm chứng trong thư thứ nhất gửi tín hữu Thêxalônica 4,13-5,10; thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô 15,12 tt; thư thứ hai gửi tín hữu Côrintô 5,1-10; thư gửi giáo đoàn Philiphê 3,11.20-21. Kỹ thuật chú giải kinh thánh của trường phái rabbi được thánh Phaolô áp dụng trong thư gửi tín hữu Galát 3,6 tt.; 4,21-31 và thư gửi giáo đoàn Roma chương 4. Liên quan tới ảnh hưởng của giáo phái Essenien Qumrân trên tư tưởng thần học của thánh Phaolô như một số học giả chủ trương, cần phải cẩn thận hơn. Thật ra ở đây chúng ta chỉ có một vài đề tài thần học giống nhau như các cặp ư niệm ánh sáng-bóng tối và thịt xác-tinh thần (J.Murphy O''''Connor (a cura), Paul and Qumran. Studies in the New Testament Exegesis, London-Chicago 1968).

Thánh Phaolô cũng vay mượn của thế giới hy lạp một ít tư tưởng và kiểu diễn tả, đặc biệt như các h́nh ảnh thể thao thể dục vv... Sự trùng hợp hay việc nhắc tới các tôn giáo thần bí chỉ có tính cách h́nh thức. Nghĩa là thánh Phaolô chỉ nhắc thoáng qua, chứ không có chủ ư tŕnh bầy nội dung các tôn giáo này. Trường hợp chương 6,1 tt. thư gửi giáo đoàn Roma là thí dụ điển h́nh. Sau cùng chúng ta cũng phải ư tứ đối với lập trường cho rằng thánh Phaolô tùy thuộc các trào lưu ngộ đạo. Trong cộng đoàn Côrintô có một số tín hữu có khuynh hướng tiền ngộ đạo hay có khuynh hướng trộn lẫn giáo lư kitô với lư thuyết ngộ đạo thật, nhưng họ đă bị thánh Phaolô thẳng thắn phê b́nh và quở trách. Trong khi đề cập tới các khuynh hướng lệch lạc này của họ, thánh Phaolô dùng các từ ngữ ngộ đạo, nhưng để đả kích, chứ không phải để tán đồng.

Ngoài ra trong tương quan với triết lư khắc kỷ, chúng ta có thể nhận thấy thánh Phaolô dùng một số quan điểm và từ vựng của khuynh hướng này. Chẳng hạn như lương tâm (syneidêsis), tự do (eleuthería), nhân đức (aretê) và sau cùng là kiểu hành văn châm biếm đả phá của trường phái khuyển nho-khắc kỷ.

Tóm lại, là người do thái có tâm trí rộng mở đối với các nền văn hóa khác nhau, thánh Phaolô đă áp dụng một nguyên tắc, mà ngày nay chúng ta gọi là hội nhập Tin Mừng vào các nền văn hóa. Nghĩa là dùng các yếu tố văn hóa của dân bản xứ để chuyển đạt sứ điệp Tin Mừng tới cho họ. Chính điểm này trao ban nét độc đáo cho tư tưởng thần học của thánh Phaolô, đồng thời chứng minh cho thấy phương pháp sư phạm truyền giáo độc đáo thánh nhân đă dùng trong việc loan báo Tin Mừng cứu độ và thực hiện công tác tông đồ mục vụ. Đây cũng là khả năng mà mọi nhà truyền giáo cần có, để có thể rao truyền Tin Mừng cứu độ của Chúa cho mọi dân nước một cách cụ thể, sống động và hữu hiệu hơn.