THÁNH PHAOLÔ LÀ MÔN ĐỆ CỦA CHÚA GIÊSU HAY LÀ VỊ SÁNG LẬP THỨ HAI CỦA KITÔ GIÁO?

Tác Giả: Đức Ông Giuse Linh Tiến Khải


Khi so sánh các thư của thánh Phaolô với bốn Phúc Âm, chúng ta không khỏi ngạc nhiên ghi nhận sự kiện này: đó là thánh Phaolô hầu như hoàn toàn không biết ǵ về Đức Giêsu thành Nagiarét. Thật vậy, trong các lời rao giảng và trong các sinh hoạt của ḿnh Phaolô hầu như không bao giờ nhắc tới Đức Giêsu thành Nagiarét, mặc dầu thánh nhân có trích một số lời của Chúa Giêsu đó đây trong các thư gửi cho tín hữu. Chẳng hạn như giới răn yêu thương: chúc phúc cho kẻ bắt bớ (Rm 12,14; 1 Cr 4,12); yêu thương tha nhân như chính ḿnh, không làm hại người khác, không ngoại t́nh, giết người, trộm cắp, tham lam; bởi v́ yêu thương là giữ trọn luật lệ (Rm 13,9-10) vv...(1 Cr 7,10.25; 9,14; 10,27; 11,23 tt.; 13,2; 1 Ts 4,15). Trong chương 4,4 thư gửi tín hữu Galát thánh Phaolô có nhắc tới sự kiện Thiên Chúa gửi con Ngài xuống thế, sinh bởi một người nữ, sinh ra dưới ách thống trị của luật lệ. Nhưng đó cũng chỉ là một kiểu nói chung chung, chứ không đề cập rơ ràng tới Đức Giêsu thành Nagiarét.

Ngoài ra cũng nên ghi nhận rằng đề tài nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu rất thích rao giảng, không lôi kéo sự chú ư của thánh Phaolô. Phaolô cũng không biết tới các giáo huấn bằng dụ ngôn của Chúa Giêsu và các tŕnh thuật phép lạ như kể trong truyền thống phúc âm. Đàng khác các đề tài mà thánh Phaolô khai triển rộng răi như sự công chính hóa duy nhất nhờ ḷng tin, lời phê b́nh triệt để đối với luật lệ Môshê, thần học về thập gía vv... không thấy có trong truyền thống phúc âm. Thật ra, thánh Phaolô chỉ tập trung vào cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô mà thôi. Nhưng thánh nhân không chú ư tới cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô như là các sự kiện, mà t́m đọc hiểu ư nghĩa sâu thẳm của chúng như là biến cố trọng tâm trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa. Có thể nói rằng cái nh́n của thánh Phaolô đối với Chúa Giêsu Kitô có tính cách tổng hợp. Trong nghĩa nó định nghĩa Chúa Kitô từ sự phục sinh mạc khải cho thấy căn cước dấu ẩn đích thực của Đấng bị đóng đanh trên thập gía. Tưởng cũng nên nhắc lại nét độc đáo trong thần học của thánh Phaolô: đó là cách kết cấu biện chứng pháp của nó. Thật vậy, thần học của thánh Phaolô tập trung trong cái phản đề mâu thuẫn, đâm rễ sâu trong thập gía. Thập gía diễn tả cái yếu hèn nhân loại bị đẩy tới độ tột cùng của sự bất lực và điên dại, nhưng đồng thời nó lại chính là nơi Thiên Chúa Cha tỏ lộ vinh quang và quyền năng của Ngài, là Đấng đă cho Đức Kitô sống lại từ cơi chết và là Đấng tạo dựng sự sống từ hư không (Cf. 1 Cr 1,18-25; 2 Cr 13,4). Đứng trước thực tại siêu việt này, thánh Phaolô không chú ư tới những ǵ Chúa Giêsu nói và làm nữa, bởi v́ đối với thánh nhân chúng không c̣n quan trọng nữa.

Dĩ nhiên quan điểm trên đây của thánh Phaolô chỉ là một cái nh́n phiến diện. Nó là lư do giải thích tại sao chúng ta lại không thể t́m thấy nơi thần học của thánh Phaolô suối nguồn chính thống duy nhất của ḷng tin kitô. Phaolô đă bỏ qua giai đoạn loan báo Tin Mừng trong cuộc đời dương thế của Chúa Giêsu để chỉ nêu bật gương mặt Đức Kitô đă chết và đă phục sinh. Nghĩa là Phaolô đă chọn tŕnh bầy biến cố quan thê thảm nhất nhưng quan trọng nhất trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Dĩ nhiên là trong sứ điệp kitô sự kiện Chúa Giêsu rong ruổi trên khắp các nẻo đường đất Palestina để rao giảng Tin Mừng cứu độ và làm các phép lạ chữa lành mọi người rơi vào ách thống trị của qủy dữ, cũng quan trọng chứ không phải là sự kiện phụ thuộc (Cv 10,31). Các Phúc Âm được biên soạn ra sau đó đă tŕnh thuật các giáo huấn và các phép lạ của Chúa Giêsu chính là để cột buộc các cộng đoàn kitô vào Đức Giêsu thành Nagiarét một cách chặt chẽ hơn. Đồng thời chúng cũng nhằm mục đích ngăn chận kiểu giải thích ḷng tin theo khuynh hướng quá thiêng liêng và hứng khởi, đề cao Đức Kitô phục sinh mà lăng quên Đức Giêsu lịch sử. Mặt khác cũng không được quên rằng thánh Phaolô đă không là môn đệ của Đức Giêsu thành Nagiarét. Khác với 12 tông đồ Phaolô đă không ”ăn uồng” với Chúa Giêsu lịch sử, nghĩa là chia sẻ cuộc sống thường ngày của Ngài trong những năm Chúa Giêsu rao giảng Tin Mừng cứu độ (Cf. Cv 10,41). Phaolô đă gặp gỡ Chúa Giêsu, đúng thế, nhưng trong ánh sáng rạng ngời của buổi sáng ngày phục sinh, chứ không phải trong chuỗi ngày lao nhọc hay cảnh tượng thê thảm tối tăm của cuộc tử nạn ngày thứ sáu. Và Chúa Kitô phục sinh đă thu hút trọn sự chú ư của Phaolô.

Tuy nhiên đây lại chính là điều khiến cho nhiều thần học gia thắc mắc đặt vấn đề. Họ tự hỏi không biết thái độ chỉ chú ư tới Đức Kitô phục sinh trên đây của thánh Phaolô có nghĩa là thánh nhân chỉ trung thành với Đức Giêsu Kitô có một nửa, hay phải kết án thánh nhân là đă phản bội ḷng đạo đức đơn sơ và nhân bản của Đức Giêsu thành Nagiarét, vị ngôn sứ nổi danh của vùng Galilea, bởi v́ Phaolô đă thay thế ḷng đạo đức đó bằng một thứ cơ cấu tín lư xa lạ? Đây là lập trường của nền thần học tự do Đức với gương mặt điển h́nh là học giả Harnack. C̣n học giả W. Wrede th́ muốn gán cho thánh Phaolô vai tṛ vị sáng lập thứ hai của Kitô giáo. Thật ra kiểu cách đặt vấn nạn cực đoan và cuồng nhiệt như thế dễ đưa tới các kết luận lệch lạc. Để có thể lượng định vấn đề một cách quân b́nh và vô tư hơn, có lẽ phải nêu bật rằng việc đối chiếu tương quan giữa thánh Phaolô và Đức Giêsu phải được xây dựng trên các nền tảng gián tiếp và qua các trung gian. Nghĩa là phải đối chiếu Đức Giêsu thành Nagiarét với các cộng đoàn kitô tiên khởi, bởi v́ thánh Phaolô liên hệ với Đức Kitô chính là qua trung gian của các cộng đoàn kitô tiên khởi gốc hy lạp, trong đó Phaolô đă lớn lên như là tín hữu và như là tông đồ. Khi nh́n vấn đề như thế, chúng ta sẽ nhận thấy khoảng cách giữa Phaolô và Đức Giêsu thành Nagiarét không đến nỗi qúa xa vời như chúng ta thường tưởng nghĩ, bởi v́ những ǵ Phaolô khai triển cũng bắt nguồn từ niềm tin của các kitô hữu tiên khởi cũng như từ truyền thống tông đồ và tiếp tục trong cùng một nguồn mạch lịch sử ấy.

Thật thế, trước khi Phaolô, vị tông đồ dân ngoại, là nhân vật có cá tính rất mạnh xuất hiện, người ta đă chứng kiến một bước chuyển tiếp định đoạt trong lịch tŕnh tiến triển thần học. Đó là sự kiện Đức Giêsu, người viết Tin Mừng Nước Trời bằng chính các lời rao giảng, các việc làm, cái chết và sự sống lại của Ngài, kể từ sau các lần hiện ra với các môn đệ, đă trở thành Chúa Kitô được các môn đệ rao giảng. Nghĩa là Đức Giêsu thành Nagiarét, Đức Giêsu lịch sử đă trở thành nội dung của Tin Mừng được các tông đồ loan báo cho thế giới. Thánh Phaolô đă chỉ là người tháp cuộc đời ḿnh vào ḍng phát triển sinh động ấy của Tin Mừng, và đẩy mạnh tiến tŕnh phát triển ấy cho tới các kết qủa tột cùng của nó. Và điểm đặc biệt nhất là thánh nhân đă soan thảo ra cho môi trường kitô không do thái và hy lạp một thứ từ ngữ thần học thích hợp để rao truyền nội dung Tin Mừng ấy là Đức Kitô phục sinh.

Đàng khác chúng ta không thể phê phán sự tiếp nối lịch sử đó của công tác rao truyền Tin Mừng từ bên ngoài các biến chuyển t́nh thế c̣n kéo dài và tồn tại. Nghĩa là lịch tŕnh phát triền thần học trong khoảng cách giữa Đức Giêsu thành Nagiarét và thánh Phaolô, và trong khoảng cách giữa Đức Giêsu thành Nagiarét và Kitô giáo của thập niên thứ nhất đă có thêm nhiều sự thật khách quan liên hệ tới biến cố Chúa Giêsu sống lại, tới công tác rao giảng của các tông đồ và sự kiện Giáo Hội phát sinh được lồng khung vào đó. Riêng trên b́nh diện xă hội-văn hóa cần phải ghi nhận sự chuyển tiếp từ thế giới Palestina sang thế giới hy lạp. Do đó sự trung thành với Đức Giêsu thành Nagiarét không thể cô đọng trong một thời điểm tất định máy móc không thay đổi của qúa khứ. Quan niệm sự trung thành với Đức Giêsu lịch sử như thế cũng tựa như ướp xác sứ điệp và ư nghĩa con người của Đức Giêsu, rồi đặt trong viện bảo tàng tích chứa các kỷ vật khảo cổ cho người ta thăm viếng nhin ngắm, mà không tŕnh bầy chúng một cách linh hoạt và sống động như ḷng tin vào Đức Kitô phục sinh đ̣i buộc. Nói cách khác, nếu muốn lượng định sự trung thành của thánh Phaolô với Đức Giêsu thành Nagiarét cần phải theo tiêu chuẩn thứ hai này. Nghĩa là phải duyệt xét ”trường hợp” của Phaolô theo tiêu chuẩn tiến tŕnh sinh động của ḷng tin và công tác rao truyền Tin Mừng trong các biến chuyển t́nh h́nh của Giáo Hội thời khai sinh. Đúng đắn mà nói, Đức Giêsu cũng như Phaolô đều đă ư thức rơ ràng được biến cố cứu độ đột nhập vào lich sử loài người như là một ơn của Thiên Chúa. Thời giờ định đoạt trong chương tŕnh cứu độ của Thiên Chúa đă điểm trên mặt đồng hồ lịch sử nhân loại, và mọi người đều được mời gọi đáp trả lại tiếng gọi cứu rỗi ấy.

Tóm lại, xác tín ḷng tin trước sau vẫn là một. Nếu có ǵ thay đổi chăng, th́ đó chính là sự thay đổi của ngôn ngữ. Và đây không phải là chuyện nhỏ. Đức Giêsu lịch sử, Ngôn sứ thành Nagiarét đă dùng thứ ngôn ngữ Nước Trời của Thiên Chúa để loan báo cho mọi người biết Nước Trời đă hiện diện trước ngưỡng cửa cuộc đời con người và được hiện thực trong hoạt động giải phóng của Ngài ( Mc 1,15). Trong khi thánh Phaolô người ”mắc nợ người hy lạp và dân ngoại cũng như mắc nợ kẻ khôn ngoan và ngừơi vô học” (Rm 1,14), th́ t́m cách diễn tả Tin Mừng cứu độ đó với các phạm trù được khai triển trong ngôn ngữ mang nhiều sắc thái thần học hơn như: sự công chính hóa, ḥa giải, giải phóng, cứu độ và ơn thánh vv...